KHÔNG CÓ GÌ LÀ HUYỀN THOẠI (Hồi ký Tổng thống Lee Myung Bak)

Một tháng một cuốn sách Không có lời bình »

KHÔNG CÓ GÌ LÀ HUYỀN THOẠI

(HỒI KÝ TỔNG THỐNG LEE MYUNG BAK)

Nhân sự kiện sinh viên trong trường vận động tranh cử chức Chủ tịch Hội sinh viên Trường, tôi tìm trên mạng thông tin về phong trào sinh viên ở Hàn Quốc để viết một entry cho blog 360 độ của mình và bắt gặp cuốn sách này trên trang web của trường http://www.kanata.com.vn với tựa đề Không có gì là huyền thoại do Lê Huy Khoa dịch. Hồi ký được trích đăng từng phần nhỏ và tiếc là những gì tôi có được chưa phải là toàn bộ tác phẩm. Hồi ký của tổng thống Lee Myung Bak còn được GS TS Việt Nam học Cho Jae Hyun dịch sang tiếng Việt.Tôi thường không thích đọc sách lịch sử hay chính trị lắm, nhưng ngay từ chương đầu cuốn sách đã cuốn hút tôi. Và thế là vừa tải vừa đọc, đọc nghiến ngấu cho đến hết những gì có thể tải được. Nhiều đoạn tôi đã không cầm được nước mắt.

“Từ một cậu bé thiếu niên yếu ớt và bệnh tật, trở thành chủ tịch một tập đoàn, từ chủ tịch một tập đoàn, bây giở trở thành Tổng thống của cường quốc về kinh tế châu Á. Một câu chuyện cảm động về sư nỗ lực không biết mệt mỏi bằng một ý chí sắt thép, chiến thắng nghịch cảnh và khó khăn”.

Mặc dù hiện nay, theo đánh giá của nhiều người, vị Tổng thống này có chính sách đối ngoại chưa tốt, đặc biệt với “người em” ruột phía Bắc và đã để nhiều vấn đề xảy ra trong thời gian gần đây khiến tình hình trên bán đảo Triều Tiên luôn luôn căng thẳng, nhưng đọc hồi ký của ông tôi thực sự cảm phục một nghị lức, ý chí vươn lên và rút ra nhiều bài học cho chímh bản thân mình.

Theo cách hiểu thông thường thì huyền thoại là cái gì đó khó tin, tưởng tượng, huyền hoặc. Ngay tựa đề của Hồi ký ông đã khẳng định “chẳng bao giờ có huyền thoại cả, tất cả chỉ là ý chí bất khuất của con người, vượt qua trùng điệp khó khăn và cơn nguy kịch bằng tất cả những gì mình có”. Phó giám đốc tuổi 20, giám đốc tuổi 30, tổng giám đốc tuổi 40, Thị trưởng Seoul vào tuổi 50, Tổng thống Hàn Quốc vào tuổi 60.Tất cả những thành công của ông chính là kết quả của một quá trình lao động không mệt mỏi, là sự thành công của ý chí, chứ chẳng phải là huyền thoại.

Hồi ký bắt đầu bằng cảnh hồi hương của một gia đình Hàn Quốc từ Osaka “với mấy đồng tiền, mấy bộ quần áo cũ và mấy thứ đồ dùng sinh hoạt hằng ngày mà thôi. Nhưng rồi thuyền đắm trước quần đảo Surima, tất cả mọi người đều được cứu sống, nhưng hành lý thì chìm xuống biển cùng thuyền bè cả. Và đúng nghĩa của từ ngữ, chúng tôi về nước với hai bàn tay trắng….Thời ấy, món ăn mà gia đình tôi hay ăn nhất chính là là bã rượu, lý do vì nó là rẻ nhất. Và với một giọng chua chát ông nói rằng “không biết có phải lý do tôi có thể uống rượu hơn bất cứ ai ở những cuộc nhậu khi đi làm chính là nhờ sự luyện tập từ nhỏ hay không, nhưng với tôi, có lẽ đó là di sản duy nhất mà cái nghèo đói để lại”. Trong gia đình ông lại phải nhường điều kiện tốt hơn cho các anh đi học, ông bị đuổi học vì không có tiền đóng học phí. Trong hồi ký chúng ta thấy hình ảnh một bà mẹ quê mùa nhưng luôn biết dạy con nghĩ về người khác trước khi nghĩ về mình, giúp người khác thì không được nhận trả công, một người cha nghèo khổ nhưng luôn trung thực trong buôn bán. Có lẽ những đức tính quý báu đó đã tạo nên một Lee Myung Bak ngày hôm nay.

Từ chương 11 chúng ta bắt đầu thấy hình ảnh của một chính trị gia tương lai thông qua cuộc tranh cử chức Chủ tịch Hội sinh viên. Ông đã hoàn toàn thay đổi từ con người nhút nhát trở thành một người có tài thuyết phục và lãnh đạo công chúng. Những ngày đầu đi làm ở công ty nước ngoài, những khó khăn và cách vượt qua để trở thành tổng giám đốc tập đoàn Huyndea ở tuổi 40. Cả cuộc đời ông là những chuỗi ngày cố gắng vươn lên, và đến ngay cả bệnh tật cũng phải chịu thua nghị lực phi thường của ông.

Hồi ký được viết với một văn phong giản dị và cuốn hút. Mỗi chúng ta đều có thể rút ra nhiều bài học cho chính bản thân mình, đặc biệt là lớp trẻ.

LƯỢC SỬ THỜI GIAN

Một tháng một cuốn sách Không có lời bình »

Nguyên tác: Brief History of Time của Stephen Hawking (điểm sách by Minh Hy)
Cuốn sách mà chúng tôi giới thiệu với các bạn sau đây có tên là “Lược sử thời gian” (A Brief History of Time), một cuốn sách tuyệt diệu, được viết bởi một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của thời đại chúng ta: nhà toán học và vật lý lý thuyết người Anh Stephen Hawking.

S.W. Hawking sinh năm 1942. Trong cuộc sống cá nhân, ông gặp nhiều bất hạnh. Năm 1985, ông bị sưng phổi và sau khi phẫu thuật mở khí quản, Hawking mất khả năng phát âm. Trước đó, một căn bệnh tê liệt thần kinh (bệnh ALS) đã gắn chặt ông vào chiếc xe đẩy. Hawking chỉ còn cách làm việc và giao tiếp với mọi người bằng một máy vi tính và một máy tổng hợp tiếng nói lắp liền với ghế. Tuy nhiên, tất cả những bất hạnh này không quật ngã được ý chí của nhà vật lý thiên tài. Hiện nay ông là giáo sư tại Đại học Cambridge (Anh), ở chức vụ mà ngày xưa Newton, rồi sau đó là P.A.M. Dirac, đảm nhiệm. Ông chuyên nghiên cứu về lý thuyết tương đối rộng. Những kết quả thu được cùng với George Ellis, Roger Penrose,… và nhất là sự phát hiện khả năng bức xạ của các các lỗ đen đã đưa Hawking lên hàng những nhà vật lý nổi tiếng nhất thế giới.

Cuốn “Lược sử thời gian” được viết xong năm 1987. Ngay từ khi ra đời, nó đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất thế giới. “Lược sử thời gian” đứng trong danh mục sách bán chạy nhất của New York Times trong 53 tuần, và tại nước Anh, 205 tuần liền nó có tên trong mục sách bán chạy nhất của Sunday Times. Chính Stephen Hawking cũng phải kinh ngạc. Từ trước đến nay, chưa có một cuốn sách khoa học nào được công chúng đón nhận nồng nhiệt như vậy (tuy rằng nhiều người nói, họ mua nó chỉ để bày ở tủ sách chứ không thực sự đọc. Về điểm này, cuốn sách của Hawking cũng có số phận tương tự như Kinh Thánh hoặc các vở kịch của Shakespeare).

Bằng một lối trình bày sáng sủa, giọng văn hài hước, hơi nhuốm màu bi quan, Stephen Hawking đã dẫn dắt người đọc phiêu lưu suốt lịch sử vũ trụ, từ khi nó còn là một điểm kỳ dị với năng lượng vô cùng lớn, cho tới ngày nay. Cuộc tìm kiếm của Hawking giúp người đọc khám phá hết bí mật này đến bí mật khác. Đôi khi ông dụ độc giả vào những ngộ nhận tưởng như rất có lý, rồi lại bất ngờ chỉ ra sự phi lý trong cách nghĩ, để rồi phá vỡ mọi ngộ nhận. Cuốn sách đề cập đến những vấn đề nghiêm trọng và hóc búa nhất của vật lý lý thuyết, như vụ nổ lớn, lỗ đen, không – thời gian, thuyết tương đối, nguyên lý bất định… mà không hề làm bạn đọc bị rối.

Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu với các bạn được dịch bởi Cao Chi và Phạm Văn Thiều, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.

Frankenstein của Mary Shelley

Một tháng một cuốn sách Một lời bình »

Frankenstein của Mary Shelley, truyện Kinh dị hoang tưởng

Dương Thị Thu Hương

 

Tựa đề sách và thể loại sách không nằm trong sự lựa chọn của tôi, một U 50. Bí quá, không còn gì để đọc, ngay cả Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim và Cơ sở văn hóa Việt Nam của Chu Xuân Diên cũng đã đọc xong, tôi đành phải đọc cuốn sách đã nằm trên kệ sách từ rất lâu với suy nghĩ thử đọc một cuốn sách kinh dị xem nó thế nào, nếu ghê quá thì bỏ cũng kịp.

Ai dè…

Mặc dù nó không thuộc loại sách “không thể bỏ xuống khi chưa đọc xong” nhưng nó cũng làm tôi mỗi tối phải mau mau làm cho xong công việc nhà và dù có mệt rũ ra thì vẫn háo hức để đọc tiếp cái …dễ thương và vô cùng nhân bản của cuốn sách …kinh dị này.

Bạn sẽ hỏi tại sao nó hay mà tôi không cố gắng thức để đọc cho nó hết ngay? Thú thật, tôi là người của ban ngày, ban đêm phải ngủ rất sớm. Thứ hai, quan trọng hơn, cuốn sách kinh dị này đòi hỏi bạn phải đọc từ từ, nghiền ngẫm nó mới thấy hết cái … dễ thương của nó. Nó dễ thương vì nó kinh dị mà không hề … kinh khủng như tôi vẫn tưởng. Nội dung của nó thật đơn giản và rất bình thường: một con người từ khi sinh ra với bản tính trong sạch theo thuyết “nhân chi sơ tính bổn thiện” dần dần bị … người hóa, trở nên nhạy cảm, cô đơn, muốn được yêu thương và vì không có được tình yêu mà trở nên độc ác. Trước đây tôi chỉ biết thuyết: con người từ khi sinh ra mang bản tính thiện, sau này tôi bị lung lay bởi thuyết khác “con người sinh ra vốn mang bản tính xấu, họ trở nên “thiện” nhờ giáo dục”. Tôi cũng được nghe giải thích về từ “con người” với chữ “con” đứng trứơc chữ “người”. Trong cuốn sách này, con người khi được “tạo ra” hoàn toàn “thiện” hoặc “hướng thiện”, chính xã hội mà con người đó tình cờ rơi vào đã làm cho “anh ta” trở nên “thông minh, độc ác và coi thường chính cái người tạo ra mình”.

Và điều đó làm tôi bối rối…

Đọc kỹ cuốn sách kinh dị này, bạn chắc chắn sẽ có được cái cảm giác … kinh dị của một cuốn sách …kinh dị. Cái cảm giác kinh dị đó thật ra … không kinh dị, nó không làm bạn sợ hãi mà ngược lại nó làm bạn mủi lòng.

Đọc kỹ cuốn sách bạn mới thấy trong cái kinh dị có ẩn chứa cái nhân bản sâu sắc.

          Bạn thử đọc nhận xét của mọi người về nó xem: “Trong cái vỏ một câu chuyện kinh dị hoang đường độc nhất vô nhị, Frankenstein của Mary Shelley mang những ngụ ý triết học và đạo đức lớn lao: sự đối lập giữa những gì con người tạo ra với tự nhiên, cái thiện và cái ác, tham vọng và trách nhiệm xã hội …”.

Và đây, một đọan trích nhỏ:

 “Ta không định tìm ai chia sẻ nỗi bất hạnh của mình. Không bao giờ tìm được mối đồng cảm nào hết. Hồi đầu đi tìm nó, ta nhằm vào tình yêu đức hạnh, những cảm xúc hạnh phúc và thương mến tràn trề trong ta, ta những muốn dự phần trong đó. Nhưng nay, đối với ta, đạo đức chỉ là một cái bóng, hạnh phúc yêu thương đã trở thành nỗi tuyệt vọng ngán ngẩm và đắng cay, vật ta tìm đồng cảm về chuyện gì đây? Ta cam tâm đau khổ một mình, trong khi những nỗi đau còn đó… Một thời gian ta đã tưởng đến những giấc mơ đạo đức, tiếng tăm hay tình yêu cuộc sống. Một thời ta đã sai lầm mà hy vọng gặp được những sinh vật có thể bỏ qua hình dáng bên ngoài của mình, sẽ yêu mình vì những phẩm chất xuất sắc mình có thể bộc lộ… Nhưng sự đời vốn thế: thiên thần sa ngã trở thành ác quỷ…”

“…Ánh sáng đám cháy rồi sẽ tắt, nắm tro tàn sẽ được gió đưa xuống biển khơi. Linh hồn tôi sẽ ngủ yên bình, hoặc nếu như nó còn suy nghĩ, chắc chắn nó sẽ không nghĩ như giờ đây.”

Có thể bạn không thích cái gì có vẻ quá dạy đời như thế nhưng tôi nghĩ bạn sẽ thấy bất ngờ, thú vị khi đọc quyển sách này.

Cuốn sách cuốn hút tôi vì một lẽ nữa. Nó khẳng định cái “phát hiện” của tôi: “Con người ta mỗi người là một bản thể cô đơn”

Và trên hết nó làm thay đổi định kiến của tôi về “kinh dị” nói chung.

Truyện ngắn_ Nhật Bản

Một tháng một cuốn sách Không có lời bình »

   Đây là chắc cũng không phải là một truyện ngắn xa lạ với mọi người nên khi post lên đây tôi cũng thấy “e ngại” vì đưa lên toàn những thứ không phải của mình. Những thứ mà không nói ra thì ai cũng biết đó là cái gì. (cái này hơi bị nhiễm hơi hướm của Harry Poter). Thật tình lần đầu tiên đọc qua truyện này tôi không có cảm giác gì hết, bình thường. Chuyện tưởng có ma hóa ra không có ma cỏ gì ráo. Hai ngày sau tôi in nó ra giấy khổ A4 rồi đọc lại, đọc lại nữa. Tôi thấy gì? Cái bản ngã trong con người còn đáng sợ hơn cả ma quỷ gấp trăm lần. Có ai đã nhìn thấy cái phần sâu thẫm đen tối bên trong của mình chưa? Hãy soi lại mình thật kỹ rồi nói : tôi là một người thánh thiện. Hãy chân thật với chính mình rồi hãy nói nhé! Theo tôi  việc đọc, ngoài việc thưởng thức cái đẹp về nghệ thuật  ra nó còn là ánh sáng để mỗi người tự soi rọi lấy mình hiểu mình hơn và cũng hiểu người hơn. 

Haruki Murakami – Gương soi                             

              Từ đầu đến giờ tôi đã nghe mọi người lần lượt kể chuyện mình, và tôi cho rằng chung quy loại chuyện này chỉ có hai típ cơ bản mà thôi. Ở típ đầu tiên, ta có một bên là thế giới người sống còn kia là thế giới người chết, và câu chuyện xoay quanh việc bước qua ranh giới giữa hai cõi sống chết đó. Như những hồn ma chẳng hạn. Còn típ thứ hai là chuyện về những hiện tượng siêu nhiên hay những khả năng vượt ngoài những kinh nghiệm của thế giới ba chiều hằng ngày. Tri giác ngoại cảm, những điềm báo, linh cảm, hay những thứ tương tự vậy. Nếu phân chia đại khái thì tôi nghĩ có thể chia loại chuyện này thành hai típ như thế.
Suy rộng hơn, tôi nghĩ mọi người chỉ có thể trải nghiệm một trong hai típ mà thôi, hoặc típ này hoặc típ kia. Điều tôi muốn nói là, nếu một người đã nhìn thấy ma thì anh ta sẽ còn gặp ma hoài hoài, nhưng anh ta chẳng hề có linh cảm gì về chuyện đó. Còn người khác thì có khả năng ngoại cảm và luôn có linh cảm nhưng lại chẳng bao giờ gặp ma. Tôi không thể giải thích tại sao, nhưng dù lý do gì đi nữa thì sự việc dường như đúng như thế. Ít nhất là tôi nghĩ thế.
Và dĩ nhiên cũng có một số người chẳng thuộc nhóm nào. Như tôi chẳng hạn. Tôi đã có mặt trên đời này ba mươi mấy năm rồi mà chưa nhìn thấy con ma nào. Cũng chưa lần nào tôi có một “thấu thị” hay linh cảm gì hết. Thậm chí có một lần tôi cùng đi thang máy với hai người bạn. Hai người này đều nhìn thấy ma còn tôi chẳng nhìn thấy gì cả. Họ thấy một người phụ nữ mặc quần áo xám đang đứng cạnh tôi, trong khi thật ra thì ngoài ba chúng tôi ra chẳng còn ai ở trong thang máy. Tôi nói hoàn toàn nghiêm túc đấy. Hai người bạn đó không thuộc cùng nhóm với tôi. Chắc chắn đó là một chuyện kinh dị, nhưng điều đó chỉ cho thấy rằng chẳng bao giờ tôi gặp ma.
Nhưng một lần, và chỉ một lần thôi, tôi cảm thấy sợ hãi tận đáy lòng. Chuyện xảy ra cách đây hơn mười năm và tôi chưa kể cho ai nghe cả. Ngay khi nói về chuyện đó tôi cũng đã cảm thấy sợ rồi. Tại vì tôi cảm thấy nếu kể ra thì chuyện tương tự thế có thể lại xảy ra lần nữa. Bởi thế tôi giữ im lặng suốt bao nhiêu năm qua. Nhưng đêm nay, với cương vị chủ nhà, nghe từng người kể những câu chuyện rùng rợn của họ, tôi không đành lòng im lặng cho đến lúc tàn cuộc. Vì thế mà tôi quyết định kể.
Đừng, xin quý vị đừng vỗ tay. Thực ra cũng chẳng phải chuyện gì hay ho đâu.
Như tôi đã nói, tôi chưa bao giờ gặp ma và cũng không có năng lực đặc biệt gì. Có thể quý vị cho rằng truyện của tôi không kinh dị như tôi cảm nhận, hay dù quý vị cho là như thế thì cũng có sao đâu? Và nếu quý vị cũng cảm thấy như vậy thì thật là hân hạnh cho tôi quá. Nhưng dù sao thì đây cũng là câu chuyện của tôi.
Tôi tốt nghiệp trung học phổ thông vào cuối thập niên sáu mươi. Trong khoảng thời gian đó, xã hội biến động tơi bời khiến ta cảm thấy như cơ đồ thiên hạ có thể bị sụp đổ tan tành. Về phần mình, tôi cũng bị cuốn trôi theo làn sóng đó. Và từ bỏ nghiệp nghiên bút dở dang, mấy năm trời tôi lang thang khắp Nhật Bản mưu sinh bằng những công việc tay chân. Tôi nghĩ đó là con đường đúng đắn dẫn lối đời tôi. Phải, quả thật là tôi đã làm đủ thứ việc. Một số là những việc nguy hiểm. Lúc ấy tôi còn trẻ và ngu ngốc nữa. Nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi cho đó là một cách sống thú vị. Nếu được làm lại cuộc đời từ đầu, chắc tôi cũng làm như vậy. Tôi là loại người như vậy đó.
Vào năm thứ hai lang thang, tôi nhận lời làm công việc gác đêm cho một ngôi trường trung học khoảng hai tháng. Ngôi trường này nằm ở một thị trấn nhỏ ở quận Niigata. Thực tình tôi chỉ muốn nghỉ ngơi sau những tháng hè làm những công việc khắc nghiệt. Với lại làm người gác đêm nghe ra cũng vui. Tôi có thể ngủ ở phòng bảo vệ suốt ngày và đêm đến chỉ việc đi quanh kiểm tra khắp trường hai lần. Ngoài việc đó ra, tôi có thể nghe dĩa ở phòng nhạc, đọc báo ở thư viện trường hay chơi bóng rổ một mình trong phòng tập thể dục và làm tất cả những gì mình thích. Ở lại đêm một mình trong ngôi trường trung học không phải là tệ lắm. Không, hoàn toàn không tệ chút nào đâu. Vào lứa tuổi 18,19, bạn chẳng biết sợ bất cứ cái gì.
Chắc chắn trong các bạn đây chưa ai từng gác đêm ở trường trung học bao giờ, nên tôi phải nói qua về nhiệm vụ công việc của mình. Tôi phải đi kiểm tra hai lần: một lần 9 giờ đêm và lần 3 giờ sáng. Lịch làm việc là như vậy. Ngôi trường là một tòa nhà bê tông ba tầng tương đối mới, có 18 hay 20 lớp học gì đó. Tuy ngôi trường không lớn lắm nhưng cũng có phòng nghe nhạc, phòng thí nghiệm, phòng gia chánh, phòng nghệ thuật, phòng giáo viên và phòng hiệu trưởng. Ngoài ra thì cũng có quán ăn tự phục vụ, hồ bơi, phòng thể dục và thính phòng. Phạm vi tôi phải kiểm tra là như thế.
Có khoảng hai mươi điểm mà tôi phải dùng bút bi đánh dấu từng điểm một khi đi kiểm tra. Phòng giáo viên – đánh dấu, phòng thí nghiệm – đánh dấu. Đại khái vậy. Dĩ nhiên tôi cũng có thể ngủ vùi trong phòng bảo vệ mà vẫn đánh dấu là đã kiểm tra. Nhưng tôi không lười đến thế. Nói thế nghĩa là việc kiểm tra cũng chẳng tốn bao nhiêu thời gian, với lại biết đâu lại có kẻ đột nhập vào và tấn công tôi khi tôi đang ngủ.
Vì thế, vào lúc chín giờ đêm và ba giờ sáng, tôi mang theo mình một cái đèn pin lớn và một thanh kiếm đi tuần tra quanh trường. Tay trái cầm đèn pin, tay phải nắm chặt thanh kiếm. Khi còn học ở trường phổ thông, tôi đã tập kiếm đạo nên tôi cảm thấy khá tự tin về khả năng tự vệ. Nếu một kẻ chưa có kinh nghiệm dùng kiếm tấn công tôi, tôi chắc chẳng lấy gì làm hãi sợ lắm. Nhưng ấy là hồi đó, chứ phải như bây giờ chắc tôi dông cẳng chạy tuốt.
Đó là một đêm tháng mười lộng gió. Trời không lạnh lắm. Thực ra tôi cảm thấy đất trời ẩm ướt. Khi đêm xuống, lũ muỗi trở nên không thể chịu nổi, tôi phải thắp vài cây nhang muỗi. Gió hú suốt đêm. Tôi nghe như cánh cổng dẫn vào hồ bơi đã bị gió phá tan tành và cứ đập tới đập lui trong gió. Tôi nghĩ mình phải ra sửa lại, nhưng trời tối đen nên tôi bỏ cuộc. Tiếng cánh cửa va đập trong gió vang lên suốt đêm trường.
Không có gì xảy ra khi tôi đi tuần tra vào lúc chín giờ tối. Hai mươi điểm kiểm tra được đánh dấu “Ok”. Các cánh cửa được khóa chắc chắn và mọi vật vẫn yên vị. Không có gì bất thường. Tôi quay lại phòng bảo vệ, vặn đồng hồ báo thức lúc ba giờ sáng rồi tiếp tục ngủ vùi.
Khi chuông đồng hồ reo, tôi thức dậy với cảm giác lạ lùng chưa từng thấy. Tôi không diễn tả được nhưng đó là một cảm giác rất lạ. Nói thẳng ra là tôi chẳng muốn thức dậy chút nào. Tôi cảm thấy thân thể mình cưỡng kháng lại ý chí muốn thức dậy. Thật kỳ lạ, bởi thường thì tôi bật dậy ngay cơ mà. Nhưng cuối cùng tôi cũng thức dậy một cách khó khăn để đi làm nhiệm vụ. Cánh cửa hồ bơi vẫn va đập trong gió như hồi đêm. Nhưng không hiểu sao, tôi cảm thấy âm thanh này là lạ khác trước. Chắc là do tôi tưởng tượng ra thôi nhưng sao tôi vẫn nổi da gà. Tôi nghĩ thầm: ớn lạnh thật. Mình chẳng muốn đi kiểm tra một tí nào. Nhưng dĩ nhiên, tôi cũng kéo lê thân xác mình dậy và bước ra ngoài. Nếu tôi chỉ giả vờ đánh dấu một lần thôi, thì tôi sẽ mãi mãi làm như thế. Tôi cầm đèn pin, nắm chặt thanh kiếm rồi rời khỏi phòng bảo vệ.
Đó là một đêm thật kinh khủng. Gió gào càng lúc càng mạnh, không khí càng lúc càng ẩm ướt. Tôi sởn gai ốc và không thể tập trung vào bất cứ cái gì. Đầu tiên tôi kiểm tra phòng thể dục, thính phòng và hồ bơi. Cả ba nơi đều không có vấn đề gì. Cánh cửa hồ bơi va đập trong gió, đóng mở liên tục như một quả lắc cuồng điên lúc lắc đầu vô nghĩa. Tiếng va đập nghe ra không theo một quy tắc nào cả. Cứ không, không, có, có… mãi như vậy. Tôi biết thật là kỳ quặc khi diễn tả như thế, nhưng đó là cảm giác thực của tôi vào lúc ấy.
Không có gì bất thường ở khu nhà chính. Vẫn như thường lệ. Tôi nhanh chóng hoàn thành việc tuần tra và đánh vào phiếu kiểm tra là Ok. Xét cho cùng thì chắc ổn cả thôi. Cảm thấy nhẹ nhõm, tôi quyết định trở về phòng bảo vệ. Điểm kiểm tra cuối cùng là nhà bếp của trường nằm kế bên quán ăn tự phục vụ ở góc phía đông xa nhất. Không may là phòng bảo vệ lại ở góc phía Tây. Do vậy tôi phải đi qua một dãy hành lang dài để trở về phòng mình. Tất nhiên trời tối như mực. Khi mặt trăng ló dạng, một quầng sáng yếu ớt hắt vào hành lang, nhưng nếu không, ta sẽ chẳng nhìn thấy gì. Tôi lần đường về nhờ ánh sáng chiếc đèn pin chiếu ngay phía trước mặt. Vì đêm đó có cơn bão sắp kéo tới nên hiển nhiên là trăng bị mây che khuất. Ánh đèn hắt lên một quầng sáng rồi tất cả lại ngập chìm vào đêm đen.
Đêm đó trên quãng đường về, tôi đi nhanh hơn thường lệ. Hai đế cao su đôi giày chơi bóng rổ của tôi va chạm với nền hành lang vang lên những âm thanh vội vã. Nền hành lang được trải thảm xanh. Thậm chí bây giờ trong tâm tưởng tôi vẫn nhìn thấy chúng rất rõ.
Lối vào trường nằm khoảng giữa chiều dài hành lang. Khi băng qua cổng chợt tôi có cảm giác hình như có một cái gì. Hình như tôi phát hiện một dáng hình nào đó trong bóng tối. Ngay trong khóe mắt tôi. Nắm chặt thanh kiếm, tôi rẽ sang hướng đó. Tim đập thình thình, tôi hướng ánh đèn pin vào bóng đêm. Có một bóng đen trên bức tường kế bên kệ để giày.
Đó là chính tôí. Điều tôi muốn nói là có một tấm gương. Không có ai khác ngoài tôi phản chiếu bóng mình trên tường. Tấm gương chắc là mới được gắn vào đây bởi vì tôi chưa thấy nó trong lần kiểm tra đêm trước. Chính vì vậy nên tôi đã bỏ qua. Tôi cảm thấy hết sức nhẹ nhõm, đồng thời lại thấy mình vô cùng xuẩn ngốc. Mình xuẩn ngốc thật, tôi nghĩ thầm. Vẫn đứng trước gương, hạ chiếc đèn pin xuống, tôi lần tìm trong túi một điếu thuốc và châm lửa. Tôi phà một hơi khói dài và nhìn vào hình bóng mình trong gương. Một chút ánh sáng đèn đường xuyên qua cửa sổ, chiếu vào tấm gương. Tôi nghe âm thanh va đập của cánh cửa hồ bơi vang vọng phía sau mình.
Sau khi rít ba hơi thuốc lá, tôi chợt nhận ra có điều gì khác lạ. Bóng hình ở trong gương không phải là tôi. Diện mạo bên ngoài thì đúng là tôi. Không cần phải nghi hoặc về điều ấy. Nhưng nó tuyệt đối không phải là tôi. Bằng bản năng, tôi đã nhận biết điều đó. Không, đợi đã, không đúng đâu. Dĩ nhiên là tôi đấy. Nhưng nó là một cái tôi bên ngoài tôi. Hình dạng là tôi mà không phải là tôi.
Có lẽ tôi diễn đạt không được tốt lắm.
Nhưng vào khoảnh khắc ấy, điều duy nhất mà tôi hiểu được là kẻ đang nhìn sâu vào tôi kia căm hận tôi đến tận xương tủy. Lòng căm thù này dâng cao như một ngọn núi băng u ám, một nỗi căm thù không ai có thể chữa lành. Đó là điều duy nhất mà tôi hiểu được. Tôi đứng chết lặng một lúc lâu, không thể nhúc nhích được tay chân mình mẩy. Điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay tôi rơi xuống đất. Chúng tôi cùng nhìn nhau. Thân hình tôi chết lặng như thể bị trói buộc vào nơi này.
Cuối cùng, thằng tôi kia cũng cử động. Hắn đưa những ngón tay của bàn tay trái từ từ chạm vào má và xoa khắp mặt. Tôi nhận ra mình cũng làm y chang như vậy. Như thể tôi chính là hình ảnh trong gương. Điều tôi muốn nói là, dường như hắn điều khiển được tôi.
Thế là, dồn hết sức mình, tôi thét lên một tiếng. Tôi hét vang “ Grarhh”. Và như thế, sợi dây trói chùng xuống một tí. Tôi vận hết sức bình sinh ném thanh kiếm về phía tấm gương. Tôi nghe tiếng những mảnh gương vỡ. Không ngoái lại đằng sau, tôi chạy về phòng mình, khóa cửa và nhảy lên giường. Tiếng va đập của cánh cửa hồ bơi kéo dài đến tận sáng. Cứ có, có, có, không, có, có, không không… suốt như vậy.
Tôi đoán chắc chắn là quý vị đã biết kết thúc của câu chuyện rồi. Dĩ nhiên là chẳng có tấm gương nào ở đó cả. Không có tấm gương nào. Chẳng có tấm gương nào được lắp ở lối vào trường kế bên kệ để giày cả.
Tất cả chỉ nói lên một điều là, chẳng phải tôi nhìn thấy ma đâu. Tôi đã nhìn thấy chính bản ngã mình. Và tôi chẳng bao giờ quên được nỗi sợ hãi tối hôm đó.
Có lẽ quý vị đã nhận ra trong nhà này không hề có gương soi. Thậm chí tôi còn không dám dùng gương để cạo râu, cho dù cách này rất mất thời gian. Là chuyện thật đấy, tôi không kể thêm đâu.

Hoàng Long dịch theo bản tiếng Anh “Mirror” của Christopher Allison
NBnet sưu tầm

Cà phê sách – Nét đẹp văn hóa đọc

Một tháng một cuốn sách Không có lời bình »

Đọc sách ở một quán cà phê
Người ta nói nhiều đến xây dựng một nền văn hóa đọc phát triển, bàn nhiều đến việc có thêm sáng tác hay và hấp dẫn, kêu gọi xây dựng thói quen đọc sách, định hướng người đọc những tác phẩm có giá trị… Nhưng có một điều dường như ít ai chú ý: Đọc sách ở đâu trong thời đại công nghiệp hóa này.
Chốn đọc sách thời hiện đại
Đã có sự biến đổi dữ dội về thói quen đọc sách tại các đô thị lớn. Các thư viện, “thiên đàng” của những người yêu sách cách nay trên chục năm, giờ vắng dần người đọc sách. Tiêu biểu như Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), trung tâm đô thị lớn của cả nước, đến nay cũng chỉ còn mỗi Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố (TP) còn có thể coi là nơi đọc sách tương đối lý tưởng. Những thư viện lớn khác, như Thư viện Khoa học Xã hội chủ yếu dành cho người nghiên cứu, các thư viện quận – huyện do hạn chế về cơ sở vật chất hạ tầng nên chỉ còn thu hút thiếu nhi hoặc một số người hưu trí đến xem truyện tranh hay đọc báo.
Ngay cả Thư viện Khoa học Tổng hợp TP cũng không thể xem là nơi đọc sách thực sự hấp dẫn mọi người. Có một không gian khép kín, thư viện này thật tuyệt vời với những ai muốn tìm kiếm sự tĩnh lặng để tập trung hoàn toàn vào công việc nào đó, như nghiên cứu hay học tập… Thế nhưng, để phù hợp với nhu cầu của những người chỉ có thể dành một khoảng thời gian ngắn trong ngày để đọc sách, thư viện kiểu cổ điển quả là khó đáp ứng.
Ở các quán cà phê, ban đầu vốn ồn ào, chật chội, xô bồ, hoàn toàn không đáp ứng yêu cầu một nơi đọc sách. Thế nhưng, đến nay các quán cà phê cũng có sự thay đổi phù hợp với những đối tượng có nhu cầu đọc sách. Đó là, bên cạnh những quán cà phê vỉa hè, cà phê gia đình, bắt đầu xuất hiện cả những quán cà phê hiện đại với sự bài trí tạo được sự thoải mái, thư giãn cho khách, các trang thiết bị hỗ trợ hiện đại dần xuất hiện như truyền hình cáp, mạng internet… Người ta tới quán không chỉ giải khát mà còn để bàn bạc công việc, rồi sau đó là nơi làm việc, và thời gian gần đây bắt đầu còn là nơi thưởng thức sách. Văn hóa đọc bắt đầu xuất hiện khái niệm mới: Cà phê sách!
Cà phê sách – đi tiếp đường nào?
Quán cà phê sách chính thức đầu tiên tại TPHCM là CIAO trên đường Ngô Đức Kế (quận 1). Từ đó đến nay, toàn TP đã có gần 20 quán cà phê sử dụng sách làm thương hiệu chính thức cho quán của mình. Về hình thức có thể chia làm hai loại, loại đầu lấy cà phê là chính, sách chỉ phụ thêm như các quán Book Café, Café Sách Đom Đóm, Café Sách – Snownbell… Loại thứ hai ngược lại, lấy sách làm chính, cà phê phụ thêm, nổi bật trong số các quán dạng này là chuỗi cà phê sách của Nhà sách Phương Nam hay Cà phê sách Hub (18A Cộng Hòa, quận Tân Bình).
Điểm đặc trưng khác biệt nhất giữa hai loại quán cà phê sách kể trên nằm ở số lượng sách báo và hoạt động liên quan đến sách. Cụm quán cà phê sách của Phương Nam, vốn là một phần trong hệ thống Nhà sách Phương Nam, nên luôn có lượng sách phong phú và đa dạng. Hub café tuy không phải là nhà sách, nhưng do chủ trương tập trung vào sách từ đầu, nên lượng sách ở quán này hiện có thể xem là nhiều nhất trong số các quán cà phê sách với con số lên trên 10.000 đầu sách các loại. Ngoài ra, tại các địa điểm trên luôn tổ chức nhiều sự kiện liên quan đến sách như giao lưu tác giả, tọa đàm về tác phẩm, bình luận tác giả, tác phẩm mới…
Tuy nhiên, dù chiếm ưu thế về sách, về cách tổ chức thiên hẳn về văn hóa đọc, các quán cà phê sách chuyên về sách cũng không hoàn toàn chiếm ưu thế với bạn đọc so với các quán mà sách chỉ là phụ. Đây chính là đặc trưng của văn hóa cà phê tại TP hiện nay, khách đến quán cà phê không chỉ đơn thuần thưởng thức nước uống mà còn để giải quyết nhiều vấn đề khác như làm việc, giao lưu với bạn bè, đối tác, thư giãn… trong đó có đọc sách.
Như đã nói ở trên, ngoài đọc sách trong nhà, để tìm một nơi đọc sách công cộng giữa những giờ nghỉ khi đi làm tại TP đã không còn là chuyện dễ dàng, cà phê sách trở thành một điểm đến lý tưởng. Bạn đọc không hẳn cần đến sách có sẵn vì phần lớn đều đem theo sách của mình, cái họ cần là một địa điểm thoải mái, yên tĩnh nhưng không quá tách biệt với bên ngoài, để khi cần có thể quay lại công việc một cách nhanh chóng nhất.
Cuộc sống đô thị dẫn đến những thay đổi về thói quen trong đó có thói quen đọc sách. Cà phê sách chính là một sự kết hợp đẹp giữa văn hóa đọc và văn hóa cà phê thư giãn. Cả hai góp phần đem lại một hình ảnh văn minh, hiện đại, thể hiện nét văn hóa riêng.

Theo Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên Online

Sách_ người bạn

Một tháng một cuốn sách 2 lời bình »

 

Khi mới sang đây tôi thèm đọc sách nên cái kệ sách tiếng Việt của các tiền bối để lại tôi gặm nhấm hết sạch. Sau đó tôi lên mạng đọc. thuquan.net là địa chỉ mà tôi thường xuyên trú ngụ. Nhưng đối với tôi lướt web là nguồn sống nên thỉnh thoảng cũng phát hiện một vài truyện thú vị. Một lần tình cờ tôi đọc được bài viết này  nói về sách, ít nhiều giống tâm trạng của mình nên coppy mời mọi người thưởng thức.

Vì lý do công việc, tôi hay phải dọn nhà. Cứ mỗi lần lại phải mất một vài tháng thì ngôi nhà mới xa lạ mới trở nên thân thuộc. Tôi để ý thấy thời điểm mà sự thân thuộc tăng đột biến là thời điểm khi tôi lấy sách từ trong thùng mang xếp lên kệ. Lúc xếp sách lên kệ là lúc quá khứ của ta ùa vào không gian của hiện tại.

Tôi có rất nhiều sách. Có sách đã đọc, có sách đã đọc vài lần, có sách đọc một nửa, còn có quyển mới chỉ đọc vài trang. Nhưng mất quyển sách nào là tôi biết ngay. Và tôi rất ghét các bạn mược sách mà quên trả, trong khi bản thân tôi thì cũng đôi khi giả quên.

Những quyển sách cũ hình thù xộc xệch vì thời gian là những quyển mà tôi cảm thấy gắn bó nhất. Quyển này từng vác sang Ấn độ vào mùa mưa, trang giấy hút ẩm đến quăn queo, không bao giờ tìm lại được hình hài ban đầu. Quyển này vì để cả tháng trên bàn làm việc ở trên tầng bốn tràn đầy ánh nắng trong ngôi nhà của bố mẹ tôi ở Hà Nội, nên bìa đã phai màu. Nhìn những quyển sách úa đi đi với thời gian cũng thân thương như xem cha mẹ, người thân, bạn bè mỗi ngày một già.

Tôi không bao giờ viết hoặc bôi xanh bôi đỏ lên trang sách. Cũng như không bao giờ làm xấu bạn bè của mình.

Cuộc sống của mỗi người bị hạn chế trong không gian và trong thời gian. Mỗi người chỉ có thể sống một cuộc sống, tại mỗi thời điểm chỉ có thể có một vị trí. Trang sách chính là cửa sổ mở sang những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ánh sáng mặt trời dọi vào cuộc đời mình.

Đọc sách không chỉ để thỏa mãn cái ham muốn hiểu biết về vũ trụ và về cuộc sống, mà còn là cách để nuôi dưỡng sự ham muốn đó. Một câu hỏi được giải đáp sẽ mở ra hai câu hỏi mới cần được giải đáp và dắt tay ta đến những trang sách mới.

Không phải cái gì mình cũng tìm được trong sách, vì cuộc sống luôn rộng lớn hơn sách vở. Có thứ sách không dạy được ta, vì nếu chưa được cuộc đời cho ăn đòn thì ta chưa hiểu. Cũng có những chuyện nói ra thành lời thì dễ hơn viết.

Nhưng ngược lại ta có thể học bằng đọc sách nhiều hơn người ta tưởng. Nhiều chuyện khó nói ra bằng lời lắm. Quan hệ xã giao giữa con người với con người phải tuân theo mọt số quy định : cuộc sống hàng ngày của mỗi người đã đủ mêt mỏi, không nên hành hạ người khác về sự ray rứt của bản thân mình. Khi nói, mình muốn người khác phải nghe ngay. Khi viết, mình có thể để người ta đọc lúc nào cũng được. Chọn không đúng thời điểm, những thông điệp thiết tha nhất cũng trở nên lạc lõng. Lợi thế lớn nhất của sách là tính ổn định trong thời gian.

Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách.

Thu họa (by Đông A)

Một tháng một cuốn sách 3 lời bình »

(Lang thang trên mạng, đọc được bài này trong blog của bác sĩ Đông A, thấy hợp cảnh hợp tình, copy về cho pàcon đọc chơi, chúc mọi người enjoy chút hương vị mùa thu)

Kusabana wo egaku nikka ya aki ni iru
Shiki

Thảo hoa
họa mỗi ngày
mùa thu tới

Bài haiku này nghe nói Shiki viết khi ông đang ốm vào mùa thu. Mỗi ngày ông nằm trên giường bệnh vẽ những bông hoa mà bạn bè và người thân ông mang tới. Tôi đọc bài haiku này giữa mùa thu đang tới. Mỗi ngày mùa thu như là một người họa sĩ vẽ hoa lên các cây. Người ta hay nói đến thu thanh, tiếng thu. “Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp / Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân”, Muôn dặm tiếng thu thôi thúc lá rụng / Một trời sắc lạnh quét sạch những đám mây trôi nổi. Nguyễn Du viết câu thơ này bên bờ sông Lam trong nỗi bi thương khôn nguôi về thời thế và thân phận con người. Nỗi u buồn một mình giữa mùa thu. Mùa thu đến không chỉ có tiếng mà còn có hình. Mỗi ngày mới đến là một bức tranh sắc màu rực rỡ. Nhưng những màu sắc rực rỡ đấy vẫn không che nổi nỗi u buồn của mùa thu, như những bông hoa mà Shiki vẽ trên giường bệnh, như những hoa lá trên cây đang sắp giã cành. Đẹp và buồn. Rực rỡ và u uẩn.

Posted at 11/01/2010 10:46:00 PM

“Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài và những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng

Một tháng một cuốn sách Không có lời bình »

Ngay khi mới xuất hiện, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài đã gây xôn xao dư luận và tạo nên những cuộc tranh luận đa chiều. Tác phẩm khá ấn tượng với người đọc bởi văn phong độc đáo, ngôn ngữ sắc sảo, đậm chất trí tuệ, giọng điệu vừa lạnh lùng, giễu nhại vừa gợi bao nỗi xót xa…

Tác phẩm là bức tranh ghép nối rời rạc, lộn xộn những sự kiện, những nhân vật, những câu chuyện… mang ý nghĩa tượng trưng, qua sự cảm nhận của nhân vật bé Hoài. Những biểu tượng thể hiện ngay ở tên gọi của tác phẩm (Thiên s) và tên gọi các chương: Cửa sổ, Mưa, Bé Hon, Tủ sách, Chuyển động Brown, Mô hình I, Lễ cầu hôn, Đám cưới, Ván bài, Hành trình Magellan, Hóa thân của Homo – A

Những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng ấy đều ghi dấu ấn lên cuộc đời nhân vật bé Hoài. Với cô bé, Cửa sổ (chương 1) trong căn phòng “mười sáu mét vuông”, “bốn trăm ô vuông nâu” của gia đình là khoảng trống duy nhất để nhìn ra thế giới, là “tọa độ không gian” để em quan sát, nghiên cứu và phân loại những gương mặt, những dáng người (thành 2 loại: Homo – A và Homo – Z). Chọn vị trí và góc nhìn đó, bé Hoài như đứng cao hơn, như đứng hẳn ra ngoài dòng đời cuộn chảy để “thanh lọc cả đám người khổng lồ tạp loạn”, bằng niềm tin vào bảng giá trị của mình. Cái “lỗ thủng” hình chữ nhật cực kỳ biến ảo ấy còn mở vào tình yêu của bé Hoài. Vì vậy, cô bé đã thu mình trên bậu cửa, chờ đợi suốt 15 năm. Cuối cùng, cửa sổ vẫn là cửa sổ – vẫn là khoảng lơ lửng nhất và mở vào không gian vô tận…     

Khắc vào tâm khảm của bé Hoài, Mưa (chương 2) không còn là hiện tượng tự nhiên mà trở thành nỗi ám ảnh: “Nước mưa sao nhiều và mặn thế”, tưởng chừng “bốn đại dương trên địa cầu hùa nhau ập xuống”. Ám ảnh này xuất phát từ “mái nhà bao giờ cũng dột”. Còn cảm giác nước mưa “mặn” là bởi nhân vật đã từng biết đến nước mắt (mặn) và từng nếm quá nhiều vị nhạt của cuộc đời (chưa từng biết mùi vị cái hôn của mẹ, bát canh nhạt, những bài giảng nhạt loãng của thầy…). Mỗi lần trời đổ mưa là mỗi lần gia đình bé Hoài có chuyện: “Mẹ lại rít qua kẽ răng: Tại sao anh không xoay ra giấy dầu lợp nhà!”. “Ba cũng rít qua kẽ răng…”. Rồi thì đổ vỡ. Rồi thì nức nở… Mưa tự thuở nào đã trở thành một tai họa, đã trút xuống gia đình bé Hoài những nỗi đau buồn, những đổ vỡ khó hàn gắn. Nó ám ảnh tuổi thơ tội nghiệp của cô bé.

Thế nhưng, Tủ sách (chương 5) mới thực sự là yếu tố có ý nghĩa quyết định thế giới vật chất và tinh thần của nhân vật Hoài. Đây cũng là chương mang nhiều hàm nghĩa nhất. Nó cho thấy kiểu độc quyền văn hóa tri thức của con người một thời: “Papa cai quản tủ sách như ông vua độc đoán coi giữ vườn cấm”. Kiểu say mê sưu tập sách, quý sách và giữ sách “bo bo” cho riêng mình (tựa như câu chuyện bi hài trong bộ phim Phong mãn lầu của Trung Quốc), để “tự lĩnh tự tiêu” hoặc không để làm gì cả, cũng là cái “tệ” của một thời. Bố cô bé Hoài thuộc loại thứ hai (sưu tập sách không để làm gì cả). Với ông, làm sao cho “những tư tưởng vĩ đại từ cổ kim đông tây chen vai thích cánh trong tủ sách gia đình, rồi nhốt chặt chúng sau lần bìa cứng” là đủ. Quanh chuyện tủ sách, người đọc còn thấy sự nghèo nàn và sự đóng khung – mô hình văn hóa của một thời. Đó là “hành trình văn hóa không dài hơi”, là những “bộ đồng phục tinh thần may sẵn”. Đối với bé Hoài, những giá trị tinh thần may sẵn ấy là nguồn gốc nỗi bất hạnh của cả vài thế hệ.

Chương ba (Bé Hon) có thể xem là chương viết hay nhất, “có hồn” nhất của tác phẩm. Bé Hon – “Thiên sứ pha lê” là biểu tượng của cái đẹp sáng trong, tinh khiết. Với vẻ đẹp kỳ lạ, với nụ cười và môi hôn “ban phát hào phóng” cho muôn vật, bé Hon đã thực sự đem lại “những ngày thần tiên” cho gia đình. Nhưng bé Hon – Thiên sứ cũng chính là “phép thử” đối với con người nơi trần gian nhân cuộc dạo chơi miên viễn. Cuộc “đụng độ” với những cỗ máy tâm lý phức tạp của con người và sự ra đi của thiên sứ là lời khẳng định về sự xơ cứng tâm hồn, sự đánh mất cái đẹp thánh thiện vốn ẩn náu trong trái tim tươi đỏ của con người.

Thiên sứ  là cả một “rừng biểu tượng”. Tác phẩm chỉ có 77 trang, có chương chỉ vỏn vẹn nửa trang (chương 9). Cách kết cấu mang tính chất tỉnh lược, gọn nhẹ này được M. Kundera gọi là “tính Janacek”: “tẩy rửa khỏi tiểu thuyết lối tự động hóa kỹ xảo tiểu thuyết, lối nói suông tiểu thuyết, làm cho nó cô đọng lại”.

Đến với Thiên sứ, bạn sẽ hiểu được rất nhiều vấn đề về văn hóa, văn minh hiện đại, về đạo đức nhân sinh…Và chắc chắn, có lúc, bạn sẽ không tránh khỏi giật mình, thảng thốt vì hình như những gì mình bắt gặp trong tác phẩm vẫn hiển hiện đâu đó quanh ta…

GIÁO SƯ VÀ CÔNG THỨC TOÁN (Yoko Ogawa)

Một tháng một cuốn sách 6 lời bình »

GIÁO SƯ VÀ CÔNG THỨC TOÁN (Yoko Ogawa, tác giả đoạt giải thưởng Akutagawa) là câu chuyện về một vị giáo sư toán thuộc hàng kiệt xuất, sau một tai nạn giao thông ông  bị mất trí nhớ nhưng lòng đam mê toán học vẫn không hề gián đoạn. Khả năng lưu giữ tối đa những sự kiện trong ngày của ông giờ chỉ còn 80 phút. Sau thời gian này mọi sự với ông lại hoàn toàn mới.  Vì tính khí kỳ lạ thất thường, hàng chục người giúp việc đã rời bỏ ông. Cho đến khi cô giúp việc mới xuất hiện thì mọi sự thay đổi. Cô đã dẫn đứa con trai nhỏ của mình đến chơi với ông. Niềm vui, sự đam mê toán học, sự ân cần, lòng kiên nhẫn, tình yêu và niềm tin mà ba người trao cho nhau đã cho họ có được một mối quan hệ kỳ lạ, đầy xúc động…   

* Câu chuyện có những chi tiết thú vị về các con số, chẳng hạn:  Tổng các ước số của 28 chính bằng 28 (ước số là những số có thể chia hết cho một số khác) 
28=1+2+4+7+14
6= 1+2+3  – 496=1+2+3+4+5+6+7+8+9+10+11+12+13+14+15+16+17+18+19+20+21+22+23  +24+25+26+27+28+29+30+31.   
220 và 280 là cặp số tình bạn vì tổng các ước số của 220 bằng 284 và tổng các  ước số của 284 là 220.(220:1+2+4+5+10+20+22+44+55+110=142+71+4+2+1:284).

*Có những trò chơi dí dzỏm: viết ra những câu hồi văn (một câu văn đọc xuôi,  ngược đều giống nhau): 
“Trầm hương thơm hương trầm” 
“Con mèo quắp mèo con”

* Hơn thế, câu chuyện gợi cho người đọc suy ngẫm về cái vô tận so với cái  hữu hạn; về sự bí ẩn diệu kỳ của toán học; trao cho người đọc những phút suy tư về sự mênh mông của vũ trụ và của những điều chưa biết:
 “Đoạn thẳng là đường ngắn nhất nối giữa hai điểm. Còn đường thẳng thực sự  theo định nghĩa không có đầu mút. Phải chạy dài vô hạn. Tuy nhiên, khổ của một  tờ giấy thì hữu hạn, sức vóc của cô cũng giới hạn, nên chỉ còn cách thừa nhận  đoạn thẳng này là đường thẳng mà thôi.”    “Đường thẳng thật sự nằm ở đâu? Chỉ có ở nơi này.”  Giáo sư ấp tay lên ngực mình. Giống hệt như hồi dạy tôi về hư số.  “Không thể nhìn thấy bằng mắt thường, cái sự thật vĩnh hằng không bao giờ bị  lay chuyển bởi vật chất, hiện tượng tự nhiên hay tình cảm. Toán học có thể giải  mã và biểu hiện sự thật ấy mà không thứ gì ngăn trở được.”   
“Số có tổng các ước số lớn hơn chính nó là số dôi. Ngược lại là số thiếu. Chẳng  hạn như 18:1+2+3+6+9=21 hay 14:1+2+7=10…Tôi hình dung ra 18 và 14.  Chúng không còn là những con số vô tri sau những gì giáo sư giải thích. Ở một  chốn không ai biết đến, 18 đang ra công gánh những kiện hàng quá sức, còn 14  đang trầm mặc đứng trước một khoảng trống hẫng hụt.”

*Tác phẩm còn cho ta những suy ngẫm về cái hữu hạn tàn khốc: duy trì ký ức trong 80 phút hay kéo dài mạng sống trong 80 năm so với dòng chảy vô tận của thời gian thì có khác nhau là bao?     “Mỗi buổi sáng thức dậy và mặc quần áo, giáo sư được thông báo về căn bệnh  của mình từ mẫu giấy tự tay ông viết: “Trí nhớ của mình chỉ duy trì được 80  phút” Ông được nhắc nhở rằng giấc mơ mình vừa thấy không phải là giấc mơ  của ngày hôm qua , mà đã từ lâu lắm rối, đó là giấc mơ cuối cùng mà ông còn  nhớ được. Khi biết rằng cái tôi hôm qua đã rơi xuống vực thắm của thời gian và  không thể cứu vớt, ông gục ngã. Vị giáo sư đã lấy thân mình bảo vệ Căn (đứa  con trai nhỏ của cô giúp việc) khỏi trái bóng lạc đã chết trong chính bản thân  ông.”   

* Và với những người làm nghề giáo, tác phẩm này còn cho chúng ta hình  mẫu về một nhà giáo chân chính với phương pháp sư phạm tuyệt vời mà chìa  khóa vàng là tình yêu thương, ước muốn trao truyền, nâng đỡ học trò vô bờ bến: 
“ Giáo sư khen ngợi Căn không tiếc lời. Trong lúc khen ngợi, mặc cho thời gian  trôi đi và bài toán Căn làm không tiến triển gì, ông vẫn không hề sốt ruột. Ngay  cả khi Căn lâm vào thế bí một cách ngớ ngẩn, ông cũng tìm được ra những ưu  điểm nho nhỏ để khích lệ, giống như gạn lấy từng vảy vàng từ lớp bùn dưới đáy  sông.”    Trong mọi hoàn cảnh, điều giáo sư đòi hỏi chúng tôi không chỉ là đáp án đúng.  Ông vui sướng khi thấy chúng tôi chật vật đưa ra những đáp án trật lất hơn là  khi chúng tôi chẳng trả lời được gì và câm tịt như hến. Thế rồi ông lại càng hoan  hỉ nếu từ đó nảy sinh thêm một vấn đề mới hóc búa hơn. Ông có một cảm quan  độc đáo về cái gọi là “những sai lầm đúng đắn”, và nhờ đó tạo cho chúng tôi sự  tự tin chính trong những lúc chúng tôi không thể đưa ra được lời giải đúng cho dù  đã nghĩ nát óc.” 

GIÁO SƯ VÀ CÔNG THỨC TOÁN đã nhận được giải thưởng văn học Yomiuri và  mới đây là giải thưởng của Hiệp hội Toán học vì giúp người đọc thấy vẻ đẹp của  môn khoa học này.  Paul Auster nhận xét đây là một tác phẩm “Độc đáo. Hấp dẫn. Và chưa bao giờ  cảm động đến thế.”    (Sách của NXB Hội Nhà Văn, 45.000đ)

Bao nhiêu mắc quá?

Chuyện vui trong nghề 2 lời bình »

Trong một lớp học tiếng Việt trình độ cơ bản, các sinh viên được học về tình huống trả giá ở nhà hàng. Giáo viên dạy nào là “Bao nhiêu tiền?”, “Mắc quá”, “Làm ơn bớt đi”, và dạy cách đọc và nghe về số.

Ngày hôm sau, trong số các sinh viên, có một người rất trầm tư khi giáo viên hỏi về việc thực hành các câu đã học hôm trước. Chú ý đến người này, giáo viên hỏi (bằng tiếng Anh): “Anh có thử thực hành các câu đã học không?”. Sinh viên đó trả lời: “Dạ, có. Nhưng tôi không hiểu tại sao, mỗi lần tôi hỏi, người bán đều tỏ ra tức giận.” Giáo viên nghe vậy bèn hỏi: “Thế anh đã hỏi thế nào?”. Sinh viên trả lời: “Tôi muốn biết giá cả, nên đã hỏi câu mà thầy dạy, đó là “Bao nhiêu mắc quá?”. Như vậy mà ai cũng tỏ ra giận dữ với tôi.”

Thì ra, anh sinh viên đã nghe không rõ, và ghi vào tập của mình: “Bao nhiêu mắc quá” là “How much does it cost?”