Phan Thị Yến Tuyết*

Không ít câu hỏi được nêu lên vì sao Việt Nam chỉ là một đất nước nhỏ nhưng tiếng Việt và Việt Nam học lại được quan tâm tại nhiều quốc gia trên thế giới? Hiện nay, có khoảng gần 4 triệu người Việt Nam đang sống rải rác trên hơn 100 quốc gia trên thế giới. Hiện nay hơn chín mươi quốc gia trên thế giới có sự hiện diện của những cộng đồng người Việt. Về mặt học thuật, việc giảng dạy, nghiên cứu tiếng Việt và Việt Nam học đã có những tên gọi mang dấu ấn khác nhau về cách nhìn (như Đông Phương học, Châu Á học, Khu vực học, Việt học, Việt Nam học,…) đã thúc đẩy sự lý giải, nghiên cứu Việt Nam học. Như vậy, đặc điểm của tình hình giảng dạy tiếng Việt và Việt Nam học trên thế giới đã bao hàm nhiều sắc thái về lịch sử, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khu vực học (Area Studies) chỉ mới bắt đầu từ khi chủ nghĩa tư bản phát triển và đại cách mạng ở châu Âu, đặc biệt vào thế kỷ XIX. Đến thế kỷ XIX, XX nhu cầu hiểu biết về thế giới nhằm phục vụ cho mục đích chinh phục thuộc địa đã thôi thúc các nước lớn ở châu Âu lập những trung tâm nghiên cứu về khu vực học, mà trước hết là ngành Đông Phương học. 

Phan Thị Thu Hiền*

DẪN NHẬP

Nghiên cứu văn học Việt Nam cần kết hợp cái nhìn bên trong và cái nhìn bên ngoài, chú ý hơn nữa đến đội ngũ và thành tựu của các học giả quốc tế. Điều đó không chỉ giúp chúng ta có điểm tham chiếu để đánh giá khách quan, chính xác hơn nền văn học dân tộc mà còn có thể hiểu biết và xúc tiến nghiên cứu văn học dân tộc trong bối cảnh khu vực và bối cảnh thế giới một cách toàn diện, sâu sắc hơn.

Như Huy

Đào Mai Trang thực hiện

 Lời ngỏ của người thực hiện phỏng vấn

Nghệ thuật đương đại Việt Nam đã có gần 20 năm “lịch sử” với sự khởi đầu của một số nghệ sĩ tiền phong trong nước cùng những người nước ngoài chọn Việt Nam như một điểm dừng chân quan trọng trên hành trình sáng tạo và tìm kiếm bản thể. Đó là một bối cảnh lịch sử còn rất nhiều điểm trống: không có một luồng thông tin chính thống nào về dạng thức nghệ thuật này, bao gồm lý thuyết, sự hình thành-vận động-tiến triển của nghệ thuật đương đại trên thế giới, trong khu vực, một hệ thống báo chí phê bình đúng nghĩa ở trong nước, một hệ thống kiến thức trong trường học, và hơn hết là một hệ thống bảo tàng-gallery-curator-công chúng.

Nohira Munehiro*

  1. Mở đầu

Năm 2015, tôi đã trình bày một giả thuyết về lộ trình đi sứ của Nguyễn Du tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du được tổ chức ở Hà Nội. Mặc dù từ năm 1964, khi ông Nguyễn Văn Hoàn viết báo cáo trên Tạp chí Văn học về lộ trình đi sứ của Nguyễn Du cho đến bấy giờ, nhiều người hoặc ít quan tâm đến hoặc chỉ nghĩ rằng Nguyễn Du đã đến Lâm An (tức Hàng Châu hôm nay) thôi, nhưng tôi đưa ra một giả thuyết khác rằng Nguyễn Du chỉ đến miếu Nhạc Phi ở tỉnh Hà Nam trên đường đi Bắc Kinh, chứ không bao giờ đến thăm mộ Nhạc Phi ở Lâm An trên đường về nước.

Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu. Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world) (1), nói theo Patrick H. Dust.

Nguyễn Văn Lịch[*]

Đông phương học đã ra đời từ thế kỷ XIX ở châu Âu. Việt Nam học ra đời muộn hơn so với các ngành Ai Cập học, Ả Rập học, Ấn Độ học, Trung Quốc học. Từ những năm 1990 ở các nước châu Âu giới nghiên cứu Việt Nam tổ chức những Hội nghị khoa học Euro - Việt. Năm 1998, Việt Nam tổ chức Hội nghị quốc tế Việt Nam học. Năm 2000, Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau đó, Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ 2 năm 2004, lần 3 năm 2008, lần 4 năm 2012, lần 5 năm 2016. Sự quan tâm khá đặc biệt của thế giới đến Việt Nam, của các nhà Việt Nam học quốc tế có tác động làm ngành Việt Nam học ở Việt Nam phát triển.

[*]     Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Thăng Long.

CLAUDE IMBERT
Phạm Anh Tuấn dịch

 Bài thuyết trình của bà Claude Imbert, giáo sư Trưởng Khoa Triết ĐH Sư phạm Cao cấp Paris, tại Viện Triết học, Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2015. Phạm Anh Tuấn dịch, Thầy BÙI VĂN NAM SƠN hiệu đính, bài được in chung trong HÀNH TRÌNH CỦA TRẦN ĐỨC THẢO, HIỆN TƯỢNG HỌC VÀ CHUYỂN GIAO VĂN HÓA, NXB ĐH Sư Phạm ấn hành năm 2017). | Phiên bản điện tử đăng trên triethoc.edu.vn do dịch giả Phạm Anh Tuấn cung cấp.

  1. Nguyễn Đức Mậu

      Nửa cuối thế kỉ XIX Việt Nam nói riêng, và phương Đông nói chung, đứng trước thực tế mới, đó là khả năng xâm lược của Phương Tây. Nhật Bản và Việt Nam, trong hoàn cảnh đó, cùng đều xuất hiện những nhà cải cách  mà tiêu biểu là Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ[1]. Và với xuất phát điểm gần nhau[2] nhưng hai nước đồng văn, đồng chủng này, sau mấy chục năm, trở thành đứng ở hai cực phát triển và lạc hậu, điều gì tạo nên những kết quả như vậy, chắc sâu xa trong đó phần nào là kết quả của những cách nghĩ khác nhau mà những nhà cải cách[3] là người thể hiện rõ cái phần quan trọng của sự khác biệt này.