Print
Vietnamese Culture and Literature
Hits: 481

Phạm Xuân Nam

Lịch sử Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến trước Chiến tranh thế giới thứ Nhất có thể được chia thành hai giai đoạn nhỏ: Từ năm 1858 đến năm 1896 là giai đoạn thực dân Pháp lần lượt thôn tính toàn bộ nước ta, rồi tiếp đó tiến hành công cuộc “bình định” để củng cố ách thống trị của chúng. Từ năm 1897 đến năm 1913 là giai đoạn chính quyền thực dân bắt đầu mở cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn để vơ vét sức người và tài nguyên thiên nhiên của nước ta, hòng mãi mãi kìm hãm nhân dân ta trong vòng nô lệ.

Trong cả hai giai đoạn kể trên, bên cạnh những tổ chức yêu nước trước sau kiên trì chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang theo kiểu cũ nhằm quét sạch bọn “Tây dương” xâm lược ra khỏi bờ cõi, cũng đã xuất hiện không ít nhân vật ưu thời mẫn thế (kể cả những người quyết tâm theo đuổi con đường cứu nước bằng bạo động) thấy rõ sự cần thiết phải nhìn rộng ra thế giới, tiếp thu những kinh nghiệm hay của nước ngoài, nhất là những thành tựu mới của văn hóa, văn minh phương Tây nhằm canh tân đất nước, nâng cao sức mạnh mọi mặt của dân tộc, với hy vọng bảo vệ được Tổ quốc thoát khỏi họa ngoại xâm, hoặc giành lại độc lập cho nước nhà sau khi đã bị mất về tay Pháp.

Dưới đây là tư tưởng và hành động của một số nhân vật tiêu biểu.

  1. TƯ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

Trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều kiến nghị canh tân đất nước để tự cường đã được một số trí thức xuất thân Nho học ưu thời mẫn thế như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch… đề xuất với vua Tự Đức.

Nhận xét về hiện tượng này, trong cuốn Việt Nam quốc sử khảo, Phan Bội Châu viết: “Những năm cuối thời Tự Đức, tân học chưa vào, đường biển chưa mở, nhưng đã có người bàn về đại thế của thiên hạ, nói nên kết giao với Anh, Đức, không nên cứ ỷ lại vào Bắc triều, đã có người xin cử người xuất dương học binh pháp của người Tây Âu, xin mở thương cảng thông thương với các nước, xin cử người đi học học thuật của Tây Âu: Thừa Thiên có Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch; Quảng Ngãi có Nguyễn Đức Thuận; Nghệ An có Nguyễn Trường Tộ. Họ chính là những người trồng mầm khai hóa ở Việt Nam” (1).

Trong số những người nói trên, Đặng Huy Trứ (2) nổi bật lên là một người vừa có tư tưởng canh tân vào hàng sớm nhất, vừa là người đi đầu trong việc thực hiện một số giải pháp canh tân mong làm cho đất nước giàu mạnh.

Năm 1843, khi mới 18 tuổi, Đặng Huy Trứ đã thi đậu cử nhân. Năm 22 tuổi, ông đi thi Hội. Đáng ra ông đã có thể đỗ tiến sĩ, nhưng không may phạm húy nên bị đánh hỏng. Chẳng những thế, ông còn bị tước luôn cả học vị cử nhân và bị phạt 100 roi.

Không nhụt chí trước vấp ngã này, ngay cuối năm ấy, ông lại đi thi Hương và đậu Giải nguyên (đỗ đầu). Tiếp đó, trong vòng 10 năm, ông theo nghiệp cha làm nghề dạy học. Ông thường viết những bài Cáo thị nói lên tôn chỉ dạy học của mình. Theo ông, học để trở thành người có tài giúp ích cho dân, cho nước chứ không phải để làm những kẻ “luôn tỏ ra vẻ cử nhân, tiến sĩ, kỳ thực là da báo thân dê, trong bụng hoàn toàn rỗng tuếch” (3). Ông chế nhạo lối học của những kẻ nặng đầu óc giáo điều, bảo thủ. Ông ví họ giống như người đi thuyền đánh rơi gươm xuống nước, vạch dấu vào mạn thuyền để khi đến bến thì xuống mò gươm!

Năm 1856, Đặng Huy Trứ được cử đi Quân thứ Đà Nẵng. Đó chính là năm tàu chiến Pháp đến bắn phá vùng đất này để thăm dò phản ứng của triều đình Huế, chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược nước ta vào mấy năm sau. Trước tình hình ấy, ông đã viết một bài thơ nói lên suy nghĩ và trách nhiệm của mình:

… Ăn lộc, ta càng lo việc nước,

Tính sao? Hòa, chiến, giữ hay nhường? (4).

Và đến khi được bổ nhiệm làm Ngự sử ở trong triều (1861-1864), Đặng Huy Trứ đã kiên quyết đứng về phe “chủ chiến” với lời thề: “Không đội trời chung với giặc” (5). Năm 1865, theo đề nghị của Phạm Phú Thứ và Viện Cơ mật, ông cải trang làm người nhà Thanh đi Hương Cảng để làm nhiệm vụ dò xét tình hình của bọn người phương Tây. Năm 1866, sau khi từ Hương Cảng về nước, ông đã xin thành lập một cơ quan kinh tế – thương mại đặt tại Hà Nội. Từ giữa năm 1867 đến cuối năm 1868, ông lại được đi công cán ở Quảng Đông. Năm 1869, ông được cử giữ chức Thượng biện tỉnh vụ Hà Nội, rồi làm Khâm phái quân vụ Sơn – Hưng – Tuyên. Năm 1871, ông giữ chức Bang biện quân vụ Lạng – Bằng – Ninh – Thái và được phái đi giúp Hoàng Kế Viêm đánh dẹp thổ phỉ ở biên giới. Năm 1873, khi Pháp bắt đầu đem quân ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, ông theo đội quân do Hoàng Kế Viêm chỉ huy rút về căn cứ Đồn Vàng, Hưng Hóa. Tại đây, Đặng Huy Trứ bị bệnh và từ trần ngày 7-8-1874.

Ông để lại cho đời 12 tập thơ với 2.000 bài, 4 tập văn gồm nhiều thể loại, 1 tập hồi ký, một số sách giáo khoa và sách nghiên cứu.

Qua tác phẩm và hành trạng của ông, Đặng Huy Trứ xứng đáng được tôn vinh là nhà thơ, nhà văn, nhà kinh tế, nhà quân sự và là một trong số những nhà trí thức có tư tưởng và hành động canh tân sớm nhất ở nước ta hồi giữa thế kỷ XIX.

Ở đây, từ góc nhìn tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa các nền văn hóa, chúng tôi tập trung bàn về những cống hiến xuất sắc của ông trên mấy phương diện:

Thứ nhất, Đặng Huy Trứ đã vượt lên quan niệm cổ hủ của hệ tư tưởng phong kiến đương thời xem nghề buôn là mạt nghệ để đi đến khẳng định Làm giàu là một đạo lớn không thể xem thường, đồng thời chủ trương kết hợp hài hòa giữa cái lợi và cái thiện trong hoạt động kinh doanh.

Có thể nói, đây là một nhận thức mới mà ông thâu hóa được trong chuyến xuất ngoại lần thứ nhất. Với phương châm “khách giang hồ phải mở rộng tầm mắt ngàn dặm, sao cho quê hương được vui khắp mọi nhà” (6), trong suốt chuyến đi đầu tiên (năm 1865) đến Hương Cảng – một vùng đất ven biển của Trung Quốc mà nhà Thanh đã buộc phải cắt nhượng cho Anh sau cuộc Chiến tranh nha phiến II (1858-1860) -, Đặng Huy Trứ đã trực tiếp quan sát, đồng thời tranh thủ gặp gỡ, trao đổi ý kiến với nhiều nhà trí thức canh tân ở nước này. Qua đó, ông hiểu được tầm quan trọng của việc người Anh đã ra sức áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình làm thay đổi nhanh chóng đời sống mọi mặt của mảnh đất đó: Từ chỗ là một bán đảo với các làng chài nghèo khổ xác xơ trở thành một trung tâm kinh tế mở, với những hoạt động nhộn nhịp của các nhà máy, xí nghiệp, hiệu buôn, bến cảng… Vì thế, ông đặc biệt quan tâm sưu tầm sách báo về khoa học kỹ thuật nước ngoài, và đích thân ghi chép tỉ mỉ về kỹ thuật máy hơi nước vốn được mô tả trong sách Bác vật tân biên để đem về nước.

Cũng trong chuyến đi đầu tiên ấy, ông đã gặp gỡ, động viên những người thợ giỏi Việt Nam được cử sang Hương Cảng học nghề đóng tàu thủy chạy bằng hơi nước. Với sự giúp đỡ của người Anh, họ đã đóng thành công một chiếc tầu đầu tiên đặt tên là Mẫn Thỏa. Ông rất phấn khởi khi được trực tiếp tham dự buổi chạy thử chiếc tầu này “vòng qua các hòn núi trong vịnh, trông lên bờ thấy cây bay, núi chạy rất là nhanh” (7).

Năm 1866, sau khi từ Hương Cảng về nước, Đặng Huy Trứ đã kiến nghị và được triều đình cho phép thành lập Ty Bình Chuẩn để tổ chức việc kinh doanh buôn bán, gây dựng tài chính cho quốc gia. Là người được giao phụ trách cơ quan này, ông đã cho mở nhiều hiệu buôn tại Hà Nội như: Lạc sinh điếm, Lạc thanh điếm, Lạc đức điếm… Ông khuyến khích việc lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền trong nước. Với một số vốn ít ỏi là năm chục ngàn quan do triều đình cấp, ông đã huy động thêm vốn của tư nhân theo công thức “công và tư đều lợi cả” (8). Ông xem “việc làm giàu là một đạo lớn không thể coi khinh” (sinh tài đại đạo sự phi khinh)” (9). Ông tổ chức việc khai mỏ, xuất cảng thiếc, tơ lụa, đường, dầu thảo mộc, quế… sang Hồng Kông.

Đi vào hoạt động trên lĩnh vực mới mẻ này, Đặng Huy Trứ đã nêu lên một mệnh đề tư tưởng có ý nghĩa rất sâu sắc:

Đường lợi bốn phương tuy rộng mở

Đạo tâm một tấm chẳng suy vi” (10).

Có thể xem đây là một mệnh đề phản ánh kết quả của sự chia sẻ, tương tác, thâu hóa giữa thành tựu văn minh phương Tây trong phát triển kinh doanh buôn bán mà Đặng Huy Trứ đã được trực tiếp quan sát, tìm hiểu tại Hương Cảng với việc coi trọng giữ gìn đạo nghĩa vốn là một giá trị quý báu của truyền thống văn hóa Việt Nam.

Thật vậy, nhìn lại lịch sử tư tưởng phương Đông, ta thấy trong suốt mấy ngàn năm, tại những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Khổng – Mạnh (trong đó có Việt Nam), hầu hết các nhà Nho thường chỉ nói đến việc làm điều nhân chứ ngại nói đến việc làm giàu, thường chỉ hay nói đến điều nghĩa, chứ ít dám nói đến điều lợi. Trong bối cảnh ấy, tư tưởng của Đặng Huy Trứ về sự kết hợp giữa việc kiếm lời mà người kinh doanh buôn bán theo đuổi với “đạo tâm” trong sáng mà người ấy phải thể hiện trong cân đong đo đếm, giao dịch với bạn hàng và người mua quả là một bước đột phá trong việc đưa văn hóa đạo đức vào kinh doanh. Tư tưởng ấy quả thực đã đi trước thời đại và còn giữ nguyên giá trị đến ngày nay.

Thứ hai, từ lĩnh vực kinh doanh, càng ngày Đặng Huy Trứ càng mở rộng thêm tầm nhìn ra bên ngoài, theo dõi, lựa chọn tiếp thu những kinh nghiệm hay của một số nước phương Đông đang trên đà canh tân, qua đó bước đầu phác ra một phương lược tự cường, tự chủ cho nước nhà.

Như trên đã nói, từ giữa năm 1867 đến cuối năm 1868, Đặng Huy Trứ lại được cử đi công cán ở Quảng Đông. Ông bị ốm ngay trên đường đi và khi đến nơi thì ốm nặng suốt 9 tháng liền. Nằm trên giường bệnh, ông vẫn đọc sách, làm thơ. Khi sức khỏe đã hồi phục, ông tranh thủ quan hệ với Tuần phủ Quảng Đông và gần 30 sĩ phu Trung Quốc. Ông đã mua 239 khẩu “quá sơn pháo” gửi về nước, đồng thời tiếp tục sưu tầm tân thư và binh thư.

Chính trong thời gian này, ông đã viết một bài văn dài nhan đề là “Trong khi ốm được Dã trì chủ nhân chỉ giáo”. Bài viết mô tả cuộc gặp gỡ, trao đổi, đối thoại giữa ông với một vị khách tự xưng là “Dã trì chủ nhân”. Thật ra, “Dã trì chủ nhân” chỉ là một nhân vật hư cấu do ông dựng lên để phản ánh cuộc đối thoại nội tâm – tức đối thoại giữa mình với mình – về những vấn đề có liên quan đến con đường tự cường, tự chủ của nước nhà.

Đem đối chiếu cuộc sống của một vị quan to ở Việt Nam với cuộc sống thiếu thốn, khó khăn lúc bấy giờ của Đặng Huy Trứ, “Dã trì chủ nhân” tỏ ra rất ái ngại cho những nỗi khổ của ông:

– Ở trong nước, Túc hạ (11) có nhà cao cửa rộng, thư thái ung dung, sang đây thì chỉ ở cái buồng con con trên thuyền, suốt ngày đóng cửa ngồi một mình, co gối nằm khác gì nằm trong lỗ.

– Ở trong nước, Túc hạ có đủ của ngon vật lạ, ăn uống sung sướng, sang đây thức ăn không hợp khẩu vị mà lại quá đắt đỏ.

– Ở trong nước, khi ốm đau Túc hạ đều sẵn thầy, sẵn thuốc, người trong nhà phục dịch chu đáo, sang đây thì gối chiếc đèn tàn, một mình một bóng cả ngày chẳng ai hỏi han…

Cứ như thế, “Dã trì chủ nhân” lần lượt nêu lên 11 điều coi như 11 nỗi khổ của Đặng Huy Trứ trong những ngày ở Quảng Châu. Nhưng Đặng Huy Trứ đã gạt đi mà rằng: “Ôi! Những điều Tôn ông cho là khổ là như vậy ư? Những điều tôi cho là khổ khác vậy thay! Ôi! Cái khổ có quan hệ đến xã tắc, đến triều đình, đến dân đen thì cho là khổ được. Cái khổ chỉ quan hệ đến bản thân mình thì là cái khổ của kẻ ngu phu, ngu phụ…” (12). Ông giảng giải tiếp: “Nước Nam chúng tôi, một dải đất chạy dọc bờ biển, mỗi năm thu nhập chỉ đủ cung cấp cho việc chi tiêu. Từ năm Mậu Ngọ (1858) đến nay, lũ lụt, hạn hán, bão tố, hoàng trùng, binh đao, tật dịch… chi phí ngày càng nhiều, tài chính ngày càng thiếu hụt. Ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường ở Nam Kỳ là những nơi tài nguyên nhiều, đất đai rộng thì đã bị bọn Phú-lang-sa (Pháp) chiếm đóng, lại còn đòi bồi thường hàng năm những 28 vạn 8 nghìn lạng bạc… Biên cương bị chiếm chưa khôi phục được, đó là điều tôi cho là khổ. Cơ quan Tư Nông (13) cho biết công quỹ thiếu hụt, đó là điều tôi cho là khổ… Ôi! Cái khổ nếu coi là khổ, thì phải vì nước quên mình, đương đầu với giặc như Tán lý Nguyễn Duy, như Bố chánh Khánh Hòa Nguyễn Đăng Hành. Là thế cô, sức yếu vẫn chửi giặc mà chết như Hàn lâm thị độc Phạm Hinh. Là lương tận, viện hết, gieo mình xuống sông mà chết như Tri phủ Phú Bình Doãn Chính. Là xông pha tên đạn, vạn tử nhất sinh như Binh bộ biện lý Ông Ích Khiêm. Là ra vào nơi man địa, không sợ lam sơn chướng khí như Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn. Là bốn mặt bị vây, cố thủ trong cô thành như các quan ở Hải Dương. Là khi giặc Tây hạ thành thì đi khắp đông tây lo cứu nước như các chí sĩ Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường…” (14).

“Dã trì chủ nhân” nghe xong vỗ tay cười, bày tỏ lòng kính phục lòng yêu nước nồng nàn của Đặng Huy Trứ và xin được góp ý kiến với ông về việc bảo vệ biên cương, khôi phục đất cũ. Những lời phát biểu của vị khách thật ra cũng chính là những điều mà Đặng Huy Trứ, qua nghiền ngẫm Tân thư, theo dõi báo chí và trao đổi với các sĩ phu của Trung Quốc, đã đúc kết thành những kinh nghiệm hay của một số nước phương Đông đang trên đà canh tân mà nước ta có thể vận dụng để thực hiện tự cường, tự chủ. Những kinh nghiệm chủ yếu đó là:

– Lập cục cơ khí, lập cục dạy nghề, tuyển thanh thiếu niên thông minh, rước mời người phương Tây đến dạy ngôn ngữ, văn tự, toán pháp, đồ họa để làm cơ sở cho việc chế tạo cơ khí, đóng tầu thuyền. Thể lệ tuyển người học gồm 6 điều: i) Chỉ lấy người khoa mục vào học; ii) ở luôn trong trường để chuyên tâm học tập; iii) Hàng tháng sát hạch để biết ai chăm ai lười; iv) Cuối năm cho thi để biết kết quả; v) Cấp học bổng để yên tâm học tập; vi) Ưu tiên khen thưởng để khuyến khích (Kinh nghiệm của nhà Thanh).

– Chế tạo được súng bắn nhanh, lại khéo giáo dục dân chúng làm cho lòng người “vững như thành”; đồng thời cùng với nước Nga hùng mạnh kết thành liên minh (Kinh nghiệm của Ba Tư).

– Nghiêm cấm thương gia nước ngoài mua rẻ bán đắt, tích trữ hàng hóa không được nhập cảnh và lợi dụng việc buôn bán để do thám tình hình (Kinh nghiệm của Cao Ly).

– Luyện tập võ nghệ, thủy quân thì tập giỏi cả hai việc đi tầu và bắn súng; lái tầu thì dạy kỹ thuật hàng hải. Tuyển chọn những thanh thiếu niên tuấn tú cho sang học ở “Luân Đôn học hiệu” của nước Anh, học chữ Anh. Những người này đều thông thạo ngôn ngữ, văn tự nước Anh… (Kinh nghiệm của Nhật Bản) (15).

Có lẽ do các điều kiện khách quan và chủ quan hạn chế, Đặng Huy Trứ chưa thể thu thập đầy đủ kinh nghiệm bắt đầu canh tân để tự cường của các nước, kể cả những nước mà ông đã nêu ra. Nhưng phải thừa nhận rằng vào thời bấy giờ, ông là người Việt Nam đầu tiên đã bỏ công nghiên cứu và viết thành văn bản kinh nghiệm của nhiều nước ngoài đến vậy.

Tuy vẫn được trình bày là lời của “Dã trì chủ nhân”, nhưng chính Đặng Huy Trứ đã biết rất rõ về những điều sau đây: “Tất cả các cách để tự cường, tự trị của các nước đều có đăng tải trên tờ Thiên Tân kinh báo và trên tuần san Quảng Châubằng tiếng Trung Quốc và tiếng nước ngoài. Ghi chép lại, thu thập cho hết, không bỏ sót điều gì rồi đệ trình lên nhà vua và báo cáo với các vị đại thần. Cái gì dùng được thì dùng, một hạt bụi, một giọt nước dù nhỏ trong muôn một cũng có thể góp vào núi cao và biển cả. Đạo của kẻ bày tôi là biết thì không có cái gì là không nói mới là chí trung… Ôi! Thuốc tốt đắng miệng chữa khỏi bệnh, lời nói thẳng chối tai lợi cho công việc… Nhưng còn phải thận trọng” (16).

Cuối năm 1868, Đặng Huy Trứ trở về nước. Ông rất muốn đem những tư tưởng trên đây trình lên Tự Đức và vận động triều đình thực hiện.

Nhưng lúc đó, hoàn cảnh đất nước vốn đã đen tối lại còn đen tối hơn nữa. Quân Pháp sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông đã chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Nhân dân và sĩ phu từ Nam chí Bắc đều sẵn sàng đứng lên chống Pháp cứu nước. Song với đầu óc thủ cựu thâm căn cố đế và tinh thần bạc nhược, vua Tự Đức tiếp tục làm ngơ trước nhiều đề nghị canh tân của các sĩ phu yêu nước; chỉ lo tìm cách xin hòa với Pháp, ra lệnh cấm các phủ huyện không được mộ quân và rèn đúc vũ khí, bãi bỏ ty Bình Chuẩn, quyết định xây “vạn niên cát địa” cho Hoàng Thái hậu…

Đó chính là một số trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thảm kịch mất nước. Và trong bối cảnh ấy, cũng giống như nhiều nhà trí thức canh tân khác, Đặng Huy