FLIER A JA(*), LÊ SƠN dịch

 

FLIER A JA. Prinadlezhit li kultura tolko cheloveku?. ONS. No3, 2006, st.155-161. | Thông tin Khoa học xã hội, số 4-2007.

 Từ gốc Latinh “kultura” (cultura - canh tác, cày bừa, chăm bón, trồng trọt, làm ruộng), như mọi người đều biết, có xuất xứ từ nông nghiệp. Thuật ngữ Hy Lạp ở thời kỳ cổ nhất “paideija” có nghĩa chính là văn hoá theo cách hiểu gần như hiện nay, nói một cách chính xác hơn, đã biểu thị nền văn minh Hy Lạp bằng cách nhấn mạnh sự khác biệt của nó với thời đại dã man (barbarie). Theo mức độ phát triển của La Mã và sự giao lưu của nó với người Hy Lạp, thuật ngữ địa phương “kultura” cũng làm thay đổi phạm vi áp dụng nó và chủ yếu được sử dụng để nhận xét về con người con người được giáo dục, con người có học thức, con người am hiểu các truyền thống, phong tục, tập quán địa phương.

Tất cả những cái khác là “thế giới của những người dã man” (kể cả những nền văn hoá cổ điển như nền văn hoá Ai Cập, Babylon, Judei...). Cần chú ý rằng ở Trung Hoa thời cổ đại đã từng tồn tại sự phân biệt rạch ròi giữa “thế giới của nền văn minh” (tức là nền văn hoá Trung Hoa) và “thế giới của bọn man di” (tất cả những cái còn lại).

 Hình: Cảnh sinh hoạt của người dân Bắc Bộ qua tranh Thang Trần Phềnh, họa sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

 Có lẽ sự vi phạm đầu tiên đối với cách phân chia cứng nhắc như vậy là thời đại Hy Lạp, khi mà, theo quan điểm của Aléxandre Macédoine và những người thân cận, “thế giới của nền văn minh” bao gồm trước hết là các nền văn hoá Tiểu Á, rồi đến Babylon, Ai Cập và Ba Tư (theo mức độ mở rộng đế chế của Aléxandre), những nền văn hoá này hoà nhập với nền văn hoá Hy Lạp. Có thể, chính vào thời kỳ ấy đã xuất hiện những ý kiến đầu tiên nhắc đến từ “văn hoá” không chỉ theo số ít mà còn theo cả số nhiều nữa: “những nền văn hoá của các dân tộc khác nhau”.

 Người La Mã tỏ ra khoan dung hơn đốivới các nền văn hoá xa lạ so với người Hy Lạp hoặc người Trung Hoa ở thời cổ đại. Họ coi những nền văn hoá ấy là mang tính chất dã man, nhưng dầu sao vẫn là văn hoá. Chí ít là nói về các nền văn hoá của những dân tộc mà trong quá trình phát triển đã đạt tới giai đoạn quốc gia - quan điểm này rất tiêu biểu đối với thế giới quan mang tính chất nhà nước của người La Mã.

 Thời kỳ Cơ đốc hoá châu Âu về phương diện này rõ ràng đã lùi một bước khi coi khái niệm “văn hoá” ngang với đạo giáo Cơ đốc như là một sự tổng hợp mang tính chất tiên nghiệm. Vả lại, trước thời Hậu Trung cổ (trên thực tế là trước cuộc Cải cách Tôn giáo) những khác biệt về văn hoá giữa các dân tộc châu Âu thể hiện chủ yếu trong việc họ theo đạo Cơ đốc hay theo đạo Chính thống, còn đặc trưng tộc người thì thể hiện trong phong   tục và tập quán của giai cấp nông dân. Các thành thị ở mức độ đáng kể là những tổ chức mang tính chất thế giới chủ nghĩa và bao gồm những khu phố dân tộc khác nhau. Tầng lớp quí tộc chủ yếu phân thành ba nhóm: nhóm nói tiếng Đức (ở Trung và Đông Âu, kể cả Ba Lan và Tiệp), nhóm nói tiếng Pháp (ở Tây Âu, kể cả Anh quốc) và nhóm nói tiếng Tây Ban Nha (ở chính Tây Ban Nha, ở miền Nam Italia và Hà Lan), còn văn hoá vật chất của nó và những khuôn mẫu ứng xử là tương đối ít phổ cập đối với toàn thể châu Âu (nhạc đạo (etos) của giới hiệp sĩ được coi như là bản quốc tế ca đầu tiên). Giới tu sĩ nói chuyện bằng tiếng Latinh, nhưng nó không mang đặc trưng tộc người. Đó là thời kỳ phồn vinh thực sự của các khuynh hướng đa văn hoá.

 Tất nhiên, tất cả những cái đó là nói về châu Âu Thiên chúa giáo. Trong khu vực Cơ đốc giáo phương Đông, thậm chí với sự hiện hữu của trung tâm văn hoá rõ rệt là Bizantin, những điều kiện lịch sử (trước hết là sự xâm lăng của Hồi giáo) không cho phép tạo ra nền văn minh và văn hoá đa năng. Tuy vậy, cần phải thấy rằng sau khi thời Cổ đại suy tàn, thuật ngữ “văn hoá” (“kultura”) nói chung không được sử dụng nữa và chỉ đến thế kỷ XVII mới được hồi sinh trong từ vựng Âu châu.

 Năm tháng trôi qua, và những sự kiện của các cuộc Thập tự chinh, của cuộc tái chinh phục Tây Ban Nha và sau đó là cuộc xâm chiếm Bizantin và bán đảo Balkan của vua Osman, dù muốn hay không, đã tạo điều kiện cho việc người châu Âu tiếp cận gần gũi với thế giới của đạo Hồi và những thể chế văn hoá của nó, đã nâng cao vị thế của nền văn minh Hồi giáo và sự kính trọng đối với nó tới mức gần ngang với thái độ đối với chính bản thân mình. Đáng chú ý là nền văn hoá Do thái từng đóng vai trung gian trong sự giao lưu giữa đạo Hồi và đạo Thiên chúa và từng trả lại cho châu Âu những kiệt tác của triết học Hy Lạp vốn được các tăng lữ thuộc vương quốc Cordova dịch ra tiếng Latinh, không được đánh giá như một nền văn hoá độc lập mà được coi là một thành kiến có hại, hay nói theo ngôn ngữ hiện đại, một sự chệch hướng.

 

Thời kỳ của những phát kiên địa lý vĩ đại, và việc thực dân hoá tiêp theo sau đối với châu Mỹ, châu Phi, một phần lớn châu Á, châu Úc và châu Đại dương đã thúc đẩy người châu Âu tiếp xúc với một số lượng rất lớn các nền văn hoá địa phương khác nhau của các dân tộc trên khắp thế giới khiến cho việc lý giải bản thân thuật ngữ “văn hoá” trong ý thức của quảng đại người châu Âu tất yếu phải thay đổi. Tất nhiên những người chinh thuộc Tây Ban Nha ở châu Mỹ, những người khám phá ra châu Phi và châu Á của Bồ Đào Nha và những người Nga đầu tiên đặt chân đến Sibiri vào thế kỷ XVI­XVII, thậm chí không coi dân bản địa là con người chứ chưa nói đến sự quan tâm chú ý đến nền văn hoá đặc sắc của họ. Các thổ dân chỉ nhận được qui chế làm người sau khi theo đạo Thiên chúa và chấp nhận toàn bộ nền văn hoá vốn là đặc trưng của tôn giáo này. Ở đây, những nền văn hoá của họ bằng cách đó đã biến thành các phân nhánh của nền văn hoá chính quốc.

 

Tuy thế, ngay từ thế kỷ XVII, trong các công trình của D. Vico và của các nhà tư tưởng khác, từ “văn hoá” càng ngày càng được sử dụng ở số nhiều. Thời đại Khai sáng của thế kỷ XVIII đã giải thích những khác biệt giữa các dân tộc chủ yếu bằng sự thích ứng của họ đối với những điều kiện thiên nhiên, còn thuyết tiến hoá của thế kỷ XIX đã đưa ra cách lý giải hoàn toàn mang tính chất khoa học về sự đa dạng và đa văn hoá vốn được qui định bởi: một là, sự khác biệt về những điều kiện sinh sống tự nhiên và về số phận lịch sử của mỗi một dân tộc và, hai là, những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển lịch sử của những xã hội này hay những xã hội khác. Vào thời kỳ đó nhân học bắt đầu được phát triển rầm rộ, nó cho phép đi tới kết luận rằng trên trái đất cùng một lúc tồn tại cả nền văn hoá sơ kỳ đồ đá cũ (verkhnii paléolit) (chẳng hạn, nền văn hoá thổ dân úc) lẫn nền văn hoá sơ kỳ công nghiệp (chẳng hạn, nền văn hoá Anh). Đồng thời đã tuyên bố sự đồng nhất có tính nguyên tắc của các chủng loại về mặt sinh lý và tâm lý của tất cả mọi người, không phụ thuộc vào màu da hay việc thuộc về nền văn hoá phát triển hay lạc hậu, đó là một thành tựu rất có ý nghĩa về mặt thế giới quan.

 Như vậy, có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu nền văn hoá, số lượng các nền văn minh được tính hằng số lượng các tôn giáo và các đế chế đa tộc, sau này, cách phân loại đó được bổ sung thêm hằng sự phân chia ra làm nhiều nền tiểu văn hoá về mặt xã hội (mang tính chất đẳng cấp, giai cấp, nghề nghiệp), chính trị, giáo dục v.v... Kết quả của cách phân loại phát triển như vậy là mỗi một người đồng thời thuộc về một số nền văn hoá và tiểu văn hoá: một là về mặt tộc người (hay dân tộc), hai là, về mặt xã hội (về mặt đẳng cấp hoặc nghề nghiệp), ba là, về mặt tín ngưỡng, bốn là, về mặt chính trị (hiểu theo nghĩa quốc tịch), năm là, về mặt chính trị-ý thức hệ (hiểu theo nghĩa định hướng chính trị cá nhân của ngườiấy), sáu là, về mặt ngôn ngữ, bảy là, về mặt nhân văn (trên hình diện chuyên môn và trình độ uyên bác của người ấy) v.v... và v.v...

 Cùng với mỗi một vòng xoắn ốc mới của việc “định vị” con người vào văn hoá đã diễn ra sự đồng nhất ngày càng sâu sắc giữa con người với văn hoá của nó (hay nói đúng hơn, với việc xác định hình dáng cá biệt của các nền văn hoá và tiểu văn hoá khác nhau mà mỗi một người sở hữu. Tất cả những cái đó đã biến quá trình tự đồng nhất về mặt văn hoá của cá thể thành một hiện tượng mang tính chất tình thế. Xét cho cùng, đối với câu hỏi “Anh là ai?”, mỗi người trả lời theo một cách riêng, tuỳ thuộc vào việc ai ra câu hỏi đó cho anh ta và người nào trong thời điểm ấy thân cận với anh ta. Có thể nêu lên một hệ thống như sau: một người Anh nào đó giữa các anh em xác định mình là John, giữa những người trong gia đình Smith xác định mình là thành viên của gia đình Peterson, giữa đám phụ nữ - là đàn ông, giữa những người theo đạo Hồi - là người theo đạo Thiên chúa, giữa các chủ trang trại - là dân thành thị, còn giữa đám chủ quán - là người hào hoa phong nhã, giữa những người lính trơn - là trung uý, giữa những người Pháp - là ngườiAnh, giữa những người da đen - là người Âu, giữa bầy voi - là con người, giữa những người dân sao Hoả - là người trên mặt đất. Không hiểu anh ta xác định mình trong giớiThần linh là như thế nào?

 Sự chuyển dịch con người và toàn hộ văn hoá của anh ta đã dẫn đến sự đồng nhất giữa con người - nói chung và văn hoá – nói chung. Đáng chú ý là một người có uy tín như V. Mezhuev trong những phát biểu gần đây nhất đã thực sự đồng nhất khái niệm “nhân học” với “văn hoá”.

 Trên cơ sở của tất cả những cái đó, trong ngành văn hoá học hiện đại đã hình thành một định nghĩa phổ biến về văn hoá như sau (tôi xin dẫn ra định nghĩa đó qua cách diễn giải của người thầy của tôi là E. Orlova): “Văn hoá - đó là một thế giới nhân tạo do con người tạo nên để bổ sung cho thế giới tự nhiên: văn hoá không được chuyển giao theo cách di truyền mà chỉ được hấp thụ hằng con đường học hỏi và bắt chước; về mặt chức năng, văn hoá có sứ mệnh làm thoả mãn các nhu cầu và lợi ích của con người, điều đó thường được thực hiện không phải một cách riêng lẻ, mà hằng sự tác động qua lại có phối hợp và có tổ chức với những người khác” (Orlova, 1994, st.30). Xuất phát từ quan điểm khoa học của mình (nói chung được các nhà dân tộc học chia sẻ [Semenov, 1999] tôi muốn bổ sung cho cái định nghĩa gần như hoàn hảo ấy một điểm sau đây: văn hoá - đó là kinh nghiệm xã hội được con người tích luỹ trong quá trình hoạt động cộng đồng của họ và được chuyển giao từ thế hệ này đến thế hệ khác dưới dạng “Những qui ước xã hội” vốn đảm bảo cho tính chất tập thể trong sự tồn tại của chúng.

 Nói một cách vắn tắt, nêu không có con người thì chúng ta cũng không thể thấy được bất cứ một nền văn hoá nào, tức là văn hoá ngang bằng với con người. Tất cả những gì do con người làm ra và tất cả những hành động được thực hiện bởi con người ở đây đều là văn hoá. Thậm chí những nhu cầu sinh học của con người về mặt nội dung là mang tính chất bẩm sinh, nhưng hình thức thực hiện chúng cũng mang tính chất gián tiếp về mặt văn ho