Tác giả: Lê Xuân Phán

Trường Luật Đông Dương là mô hình đào tạo cử nhân đầu tiên của giáo dục thời Pháp thuộc. Quá trình đi tìm những cái tên tốt nghiệp khóa đầu của trường sẽ hé lộ cho ta thấy mối quan tâm của Pháp tới đào tạo con người ở thuộc địa, sự đón nhận của người Việt với bậc giáo dục mới và quan trọng hơn là vai trò của nó trong việc tạo ra những con người góp phần xây dựng chính phủ mới sau này.

Tác giả:  Ngô Thị Phương Lê

Đại dịch Covid buộc nhiều quốc gia phải đóng cửa trường học và kỳ vọng vào giải pháp thay thế là học trực tuyến. Nhưng thực tế cho thấy những bất bình đẳng giáo dục đã có từ trước vẫn tiếp tục được bộc lộ, thậm chí bị khoét sâu hơn. Và theo Ngân hàng Thế giới, đại dịch Covid đã tạo ra cuộc khủng hoảng với giáo dục tồi tệ nhất trong thế kỷ này.

Trần Trọng Dương

Từ bao giờ lịch sử Việt Nam đã được hình dung và được viết nên như là lịch sử của chiến tranh? Ngày nay, cảm hứng nghiên cứu lịch sử mạnh mẽ nhất đều tập trung về cảm hứng anh hùng với những cuộc chiến chống giặc ngoại xâm.

Trần Trọng Dương

Những gì của Việt Nam đã hiện ra dưới sử bút trong suốt thế kỷ XX là một lịch sử thống nhất- xuyên suốt- thường hằng. Những cái đơn nhất- thống nhất có tính xuyên suốt thường hằng ấy, vẫn có những góc nhìn khác nhau, những giọng nói khác nhau. Đó là những lịch sử được tạo nên bởi giọng nói của người Việt ở đồng bằng bắc bộ. Trong thời quân chủ, đó là giọng của các nhà Nho. Trong thời Pháp thuộc đó là giọng nói nhiều màu sắc của những người bị quăng quật giữa “mưa Âu gió Á”. Trong thời hiện đại, đó là giọng của những sử gia Marxist. Dù với giọng nào thì họ cũng phát ngôn bằng những tiếng nói riêng, tạo nên sự đa thanh, đa tuyến của lịch sử đất nước.

  LIAM C. KELLEY*

 TÓM TẮT

Cho đến gần đây, hầu như tất cả thông tin về quá khứ ở Việt Nam đều do các học giả làm việc cho nhà nước, chủ yếu là các giáo sư đại học tiến hành, và được xuất bản dưới hình thức in. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các cá nhân đã bắt đầu sử dụng Internet để đưa ra những góc nhìn mới về quá khứ Việt Nam, và trong một số trường hợp là để in công trình của họ. Một số nhà sử học nghiệp dư này hiện đã đưa ra một bản văn mới về thời tiền sử Việt Nam. Bản văn này trình bày một cái nhìn cực kỳ tích cực về lịch sử của tổ tiên xa xưa của người Việt, coi họ về cơ bản là những người sáng lập ra nền văn minh Đông Á. Trong khi một số phương diện của câu chuyện này lần đầu tiên được nhà triết học Nam Việt Nam Lương Kim Định đưa ra vào những năm 1960, các nhà sử học nghiệp dư Việt Nam ở hải ngoại vào khoảng đầu thế kỷ 21 đã bổ sung điều mà họ cho là những phát hiện “khoa học” của các học giả “quốc tế” về vấn đề này. Cuối cùng, các học giả ở Việt Nam đã tiếp cận những ý tưởng này thông qua Internet và tổng hợp chúng với các công trình của các học giả đang làm việc tại Việt Nam. Sự lan truyền các ý tưởng từ miền Nam Việt Nam sang cộng đồng người hải ngoại và sau đó trở lại Việt Nam qua Internet mang lại một cái nhìn hấp dẫn về cách thức giao tiếp trong kỷ nguyên số, giúp một số tác giả từ các thế giới bị chia cắt trước đây của Việt Nam và cộng đồng người nước ngoài tìm ra điểm chung nhằm thúc đẩy tầm nhìn dân tộc về quá khứ xa xôi với mong muốn chung là tạo ra một nền tảng văn hóa và triết học vững chắc giúp người Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời đại toàn cầu.

Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trong buổi đầu của nền giáo dục bằng chữ quốc ngữ ở Việt Nam, Trương Vĩnh Ký được xem là người “mở đường” cho nhiều vấn đề: nhà giáo dạy chữ quốc ngữ đầu tiên, nhà ngôn ngữ học quốc ngữ đầu tiên, nhà báo quốc ngữ đầu tiên làm chánh tổng tài của tờ báo quốc ngữ đầu tiên; nhà báo tư nhân đầu tiên… Cuộc đời của Trương Vĩnh Ký đã trải qua nhiều thăng trầm và được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của ông đối với nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn chuyển hóa từ trung đại sang hiện đại. Trong đó, quan niệm và tư tưởng về giáo dục của ông có rất nhiều tiến bộ và vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Bài viết sử dụng các phương pháp như thống kê, phân tích – tổng hợp, so sánh… để cho thấy rõ những quan niệm tiến bộ về giáo dục của Trương Vĩnh Ký, bao gồm: xây dựng một nền giáo dục mang tính dân tộc, vì sự phát triển của dân tộc Việt Nam; mục tiêu và kiến thức giảng dạy gắn liền với thực tiễn; nhà giáo bản lĩnh, tận tụy, yêu nghề và cống hiến suốt đời.Những điều này cho đến nay vẫn là những mục tiêu trọng tâm của nền giáo dục Việt Nam.

Trần Thuận*

  1. Vài nét về thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông “Tên húy là Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ 8, tháng 11, ngày 11 [07.12.1258 – TT], được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng. Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử. Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức Lăng. Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần[1] (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 1998, tr.44).

Phan Văn Các

Ngót hai ngàn năm nay, chữ Hán, sản phẩm văn hóa độc đáo của dân tộc Trung Hoa trước sau đã truyền đến bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản cũng như Việt Nam, và được sử dụng như văn tự chính thức ở những thời kỳ lịch sử nhất định. ở hai địa đầu Đông bắc Á và Đông nam Á của vành đai văn hóa Hán, Hàn Quốc và Việt Nam, có nhiều mối tương quan và tương đồng văn hóa rất đặc sắc. Bài viết này cố gắng phác họa lại những đường nét chính trên bức tranh “chữ Hán ở bán đảo Triều Tiên”, “một khía cạnh của vấn đề so sánh Hán văn Việt Nam – Triều Tiên – Nhật Bản” mà hiện nay nhiều người đang quan tâm.