Phạm Đức Mạnh*

Mộ “hợp chất” (tombeaux en mélange cimentaire; mummy tombs; compound burials) là đối tượng nghiên cứu quan trọng của Khảo cổ học lịch sử Việt Nam, từ trước năm 1945 đã được người Pháp khai quật ở Hải Dương (mộ Võ tướng thời Lê Đinh Văn Tả) và ở Sài Gòn (mộ Thượng thư thời Nguyễn Trần Văn Học). Sau đó là các cuộc đào của Viện Khảo cổ học từ 1969 đến nay (các ngôi mộ của vua Lê Dụ Tông ở Bái Trạch và vợ chúa Trịnh là bà Ngọc Tú ở Hà Trung – Thanh Hóa, Hoàng hậu Lê Dương Thị Bi ở Nhân Giả – Hải Phòng, các phu nhân Quận công Bùi Thị Khang ở Hà Nội và Phạm Thị Nguyên Chân ở Nam Định, Quan Đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh ở Hải Dương,…) (Đỗ Văn Ninh, 1971).

Về phía Nam đất nước, mộ cổ phát hiện ngày càng nhiều ở Nam Trung Bộ (Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận), gắn liền với tiến trình mở cõi thời các chúa Nguyễn, từ các thế kỷ 16-19. Sau chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu 317 di sản “Tombeaux annamides dans les environs de Hué” của học giả linh mục Pháp Léopold Michel Cardière (1869-1955), đến nay hàng ngàn di tích trải dài trong không gian cách nhau hàng ngàn cây số, đã ghi nhận sự tồn tại mộ cổ dạng này là “hiện tượng lịch sử” đặc sắc thời kỳ Lê (黎) – Nguyễn (阮) và là một trong những đặc trưng văn hóa – tín ngưỡng riêng cho quý tộc Việt ở thuở đó.

*     Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Cổ mộ quý tộc Mạc gia trên đất Hà Tiên

_________________________________________________________________

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ IV với chủ đề Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay
NXB: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - 2019 (từ  trang 1292 đến trang 1314)