In bài này
Lịch sử - Xã hội Việt Nam
Lượt xem: 178

  CHU XUÂN GIAO*

Trong các nghiên cứu đã công bố trước đây liên quan đến Tứ vị Thánh nương, chúng tôi đã đưa ra kết luận tạm thời rằng, xưng hiệu Tứ vị Thánh nương (TVTN), hay Tứ vị (TV) và Thánh nương (TN), có lẽ xuất hiện tương đối muộn, sớm lắm cũng không quá thời Vĩnh Tộ (1619 -1628). Nếu nghiêm túc đặt vấn đề xưng hiệu của các vị thần được thờ phụng tại đền Cờn ở Nghệ An (trung tâm mang tính toàn quốc của tín ngưỡng TNVN) và rất nhiều nơi khác vào chính nguồn tư liệu văn bản để suy nghĩ thì, cái gọi là TN hay TVTN không hề có dấu hiệu được ra đời ngay từ thời Trần Nhân Tông - Trần Anh Tông (thế kỉ XIII) hay thời Lê Thánh Tông (thế kỉ XV) như trong các trần thuật trước nay của giới nghiên cứu.Phải chăng xưng hiệu ấyđược sinh ra vào một thời kì muộn hơn, khi mà tư duy phân tích về hệ thống thần linh biển của người Việt đã trưởng thành.

Hình 2 a: Bản đồ An Nam (gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài) do Đắc Lộ vẽ và công bố vào đầu thập niên 1650

Kế thừa kết quả nghiên cứu trên, ở đây, chúng tôi sẽ sử dụng một nguồn tư liệu khác, có kết hợp với nguồn tư liệu Hán Nôm, để tiếp tục soi rọi vào lịch sử của xưng hiệu TVTN cũng như của đền Cờn. Đó là nguồn tư liệu bằng văn tự châu Âu được soạn bởi những người phương Tây đã đến Việt Nam trong các thế kỉ XVII - XX. Ở bài này, chúng tôi chỉ hạn vào hai tác phẩm ở thời kì đầu tiên của nguồn tư liệu này, là hai cuốn sách đã xuất bản bằng nhiều thứ tiếng (Ý, Pháp, Latinh) tại châu Âu trong thập niên 1650 của giáo sĩ Đắc Lộ (tức Alexandre De Rhodes, 1591 - 1660, người đặt nền móng cho chữ quốc ngữ), gồm: 1- Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài(Histoire du royaume de Tunquin), 2 - Hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions).

Về mối quan hệ giữa những ghi chép trong hai cuốn sách trên của giáo sĩ Đắc Lộ với đền Cờn tại Nghệ An, trước đây, đã được một số tác giả là linh mục người Việt Nam đề cập đến trong các khảo cứu của họ. Chẳng hạn, tiêu biểu có: linh mục Cao Vĩnh Phan với cuốn Lịch sử giáo phận Vinh (ấn hành năm 1996), linh mục Trần Minh Công với bài “Đền Cờn trong bối cảnh truyền giáo của giáo sĩ Đắc Lộ” (trên Tạp chí Liên lạc nhân văn số tháng 7 năm 2005); ngoài ra, cũng có thể kể đến các khảo cứu của linh mục Đỗ Quang Chính, linh mục Trương Bá Cần và một số người khác. Các nghiên cứu trên đều thống nhất đánh giá cao công lao mở đường của cha Đắc Lộ trong lịch sử truyền giáo tại miền Trung Việt Nam. Theo ghi chép của Đắc Lộ thì, ngày 19 tháng 3 năm 1627, đúng vào ngày lễ thánh Giuse, ông lần đầu tiên đã đến Đàng Ngoài bằng việc cập bến cửa Bạng ở Thanh Hóa (khởi hành từ Macao vào ngày 12 tháng 3 năm 1627) [Alexandre De Rhodes1994 b: 69; 1994a: 81-82[1]]. Từ đó ông bắt đầu công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài. Thế rồi, đến đầu năm 1629, khi chúa Đàng Ngoài ra sắc lệnh cấm đạo trong toàn cõi và trục xuất ông khỏi vương quốc của ngài, thì cuối tháng 3 năm đó, Đắc Lộ phải đành rời bỏ Thăng Long trên một chiến thuyền đã được chuẩn bị sẵn (chúa bắt ông phải vào Đàng Trong, hoặc phải tiếp tục đi Ma Cao khi đã tới Đàng Trong). Ông trở lại khu vực Cửa Bạng, nơi mà lần đầu tiên ông đã đến trước đây, tức là khu vực Kẻ No trong ghi chép [Alexandre De Rhodes1994a: 147] hay Vạn No trên bản đồ An Nam do chính Đắc Lộ vẽ (xem Hình 2a và Hình 2b). Sau đó, thuyền của ông đi qua khu vực Cửa Chúa ở Nghệ An (đây lần đầu tiên Đắc Lộ thấy một cửa biển được gọi là Cửa Chúa). Cuối cùng, thay vào việc phải vào Đàng Trong (theo lệnh của chúa Đàng Ngoài), thuyền chỉ đưa ông dừng lại ở tỉnh Bố Chính (do nhã ý của vị thuyền trưởng đã chịu lễ thanh tẩy trong thời gian đưa Đắc Lộ vào Đàng Trong). Trong thời gian khoảng 8 tháng liền lưu lại ở vùng giáp ranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài lúc đó (gồm ba tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Bố Chính), từ tháng 4 năm 1629 đến khoảng tháng 10 hay 11 cùng năm, tuy ở trong hoàn cảnh hết sức khó khăn (“gần tám tháng mà không dâng thánh lễ bởi thiếu nguyên liệu”[2]), nhưng ông và những người tùy tùng đã nỗ lực truyền giáo, đặt những viên gạch đầu tiên cho công giáo miền Trung. Đắc Lộ trở đi trở lại giữa ba tỉnh trên, khi bằng đường bộ khi bằng đường thủy. Về đường thủy, kết hợp những ghi chép trong hai cuốn sách nói trên với tấm bản đồ An Nam do chính Đắc Lộ vẽ (bản đồ này nằm trong cuốn thứ nhất), người ta biết được rằng, ông đã ghé vào các cửa biển sau ở vùng Thanh - Nghệ: Cửa Bạng (bản đồ ghi: Cua Bang), Cửa Chúa (Cua Ciüa), cửa Rùm (Cua Rum), Cửa Sót (Cua Sot). Vấn đề được thảo luận giữa các linh mục đã kể tên trên đây chính là ở việc xác định tên và vị trí hiện nay của các cửa biển này. Với riêng Cửa Chúa, đa phần xác định đó là Cửa Lò (Cao Vĩnh Phan, Đỗ Quang Chính, Trương Bá Cần[3], Linh Phong - Hoàng Đình Hiếu...); có một người, là tác giả Trần Minh Công, thì cho rằng, về cơ bản đó là Cửa Cờn, nhưng cũng có thể là Cửa Hội hay Cửa Lò.

Thông qua việc đối chiếu một lần nữa các ghi chép của Đắc Lộ trong nguyên bản và bản đồ do ông vẽ (có bổ sung và phân tích một vài đoạn ghi chép của Đắc Lộ chưa được nhắc đến trong các nghiên cứu đi trước), và có đối chiếu với nguồn tư liệu Hán Nôm (phần việc hầu như còn bị bỏ ngỏ trong các nghiên cứu đi trước), kết hợp với quan sát trên thực địa của bản thân chúng tôi, trước hết, chúng tôi đồng quan điểm với nửa đầu trong nhận định của tác giả Trần Minh Công, tức Cửa Chúa trong ghi chép của Đắc Lộlà Cửa Cờn ở Nghệ An. Cửa Cờn (hay Cửa Lạch Cờn) theo cách gọi dân gian chính là cửa biển tương ứng với cái gọi là Càn Hải/Càn Hải môn trong tư liệu Hán Nôm (Lĩnh Nam chích quáiViệt điện u linh, thơ của Lê Thánh Tông). Ở đó, có ngôiđền Cờn (tức Càn Hải môn từ hay Đại Càn điện trong tư liệu Hán Nôm), đương thời, khi Đắc Lộ cập bến, đã rất nổi tiếng với việc thờ Bà Chúa - một nữ thần biển có nguồn gốc Trung Hoa đầy uy lực đối với ngư dân và người đi biển cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Tuy nhiên, tiến thêm một bước, chúng tôi muốn khẳng định rằng, Cửa Chúa trong ghi chép của Đắc Lộ chỉ là Cửa Cờn, mà không phải là Cửa Lò hay Cửa Hội. Có thể nói, đây là một cửa biển gắn bó với lữ trình truyền giáo của Đắc Lộ một cách duyên cớ. Ông đã ghi nó lên bản đồ một cách chắc chắn với cái tên địa phương “Cua Ciüa” (Cửa Chúa), kèm theo hình vẽ và tên của một con sông địa phương mà nó liên thông là “Vang Mai” (Vàng Mai = Hoàng Mai).

  1. Cửa Chúa với những phương thức kí âm của Đắc Lộ

Trong các tác phẩm của Đắc Lộ, chữ Chúa theo cách viết chính tả hiện nay được kí âm bằng 5 tự dạng: CiüaCiuaCujaChouaChúa; chữ Cửa thì có 2 tự dạng: CuaCửa. Trong các nghiên cứu trước đây, người ta thường mới chỉ đề cập đến tự dạng thứ nhất của chữ Chúa, là Ciüa, có khi lại chuyển tự nhầm ra thành Civa (như nghiên cứu của Trần Minh Công). Ở đây, qua đối chiếu bản gốc các tác phẩm của Đắc Lộ, chúng tôi đã làm một khảo sát về chữ quan trọng này, cụ thể như dưới đây. 

Tự dạng Ciüa và Ciua: Xem tấm bản đồ An Nam (gồm Đàng Ngoài và Đàng Trong) do chính tay Đắc Lộ vẽ (Hình 2a và 2b ở dưới đây), chúng ta thấy có tên một cửa biển được vị giáo sĩ này ghi là Cua Ciüa. Cửa này, như trên đã nói, là một trong 4 cửa biển ở vùng Thanh - Nghệ mà Đắc Lộ đã tới khi ông sử dụng đường thủy trên lữ trình truyền giáo (số cửa biển mà ông đã cập bến chắc nhiều hơn, nhưng có lẽ đây là 4 cửa biển mà ông ghi nhớ hay biết rõ nhất). Cách kí âm nguyên bản của Đắc Lộ trên bản đồ là Cua Ciüa (chữ u trong Ciüa có hai dấu chấm ở trên, như chữ ü tức ue trong tiếng Đức). Cách kí âm Ciüa này xuất hiện nhiều trong các tác phẩm của Đắc Lộ, phần lớn là để nói về các ông chúa cùng tham gia phân chia quyền lực và lãnh thổ nước An Nam đương thời (chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Mạc ở Cao Bằng, chúa Nguyễn ở Đàng Trong). Theo nhận xét của Đắc Lộ cũng như nhiều giáo sĩ phương Tây khác, Ciüa là người nắm thực quyền, đối xứng với Bua (tức Vua) - người gần như bị giảm lỏng trong hoàng cung. Có khi nó đứng riêng, chỉ là Ciüa không kèm theo tên quen gọi của chúa [ví dụ Alexandre De Rhodes1651b : 14,15].

Hình 2b: Bốn cửa biển vùng Thanh - Nghệ mà giáo sĩ Đắc Lộ đã tới trên lữ trình truyền giáo cuối thập niên 1620[4]

  1. Cửa Chúa và Cửa Cờn(Càn Hải môn) ở Nghệ An

Khác với Trần Minh Công, chúng tôi cho rằng Đắc Lộ đã không nhầm lẫn. Ghi chép và định vị trên bản đồ của ông về Cửa Chúa là nhất quán, chỉ có một Cửa Chúa duy nhất, và đó chính là Cửa Cờn. Như trên đã nói, và như sẽ trình bày ở dưới đây, Cửa Chúa/Cửa Cờn là cửa biển gắn bó với lữ trình truyền giáo của Đắc Lộ một cách duyên cớ.

Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào thời điểm tháng 3 năm 1629 trong mối liên quan giữa Đắc Lộ và Cửa Chúa (thuyền của ông khởi hành từ Thăng Long, vào ngày cuối tháng 3 năm 1629). Có lẽ, các nhà nghiên cứu đi trước nghĩ rằng, Đắc Lộ ghé qua Cửa Cờn chỉ có một lần duy nhất, và những lần sau dù Đắc Lộ nói là vào Cửa Chúa nhưng không phải Cửa Cờn mà có thể là Cửa Lò hay Cửa Hội. Chúng tôi thì cho rằng, Đắc Lộ đã tới Cửa Cờn cả thảy 3 lần (ghé qua, tới gặp người, xuất phát).

Cụ thể hơn, ghi chép của Đắc Lộ trong Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài và Hành trình và truyền giáo về 3 lần tới Cửa Chúa của ông như sau (xem Bảng 1 ở dưới đây).   

 

Lần tới

 

Thời gian tới

Lịch sử vương quốc

Đàng Ngoài

Hành trình và truyền giáo

Nguyên bản

Bản dịch

Nguyên bản

Bản dịch

 

Mô tả tổng quát

 

(trang 108)

Cua Cuja

Le port de la Reyne

(trang 69)

“Cửa chúa”

“Cửa biển bà chúa”

 

Không có ghi chép

 

Lần 1

 

Tháng 3/1629

(trang 229)

Cua Ciüa

Port de la Reine

(trang 148)

“Cửa chúa”

“Bến bà chúa”

 

Không có ghi chép

 

Lần 2

 

Tháng 10/1629

(trang 243)

Port de la Prouince de Ghean

(trang 157)

“bến tỉnh Nghệ An”

(trang 109)

Cua Choua

(trang 82)

“Cửa Chúa”

 

 

Lần 3

 

Tháng 5/1630

(trang 258)

Port applle de la Reyne

(trang 166)

“Cửa chúa”

 

Không có ghi chép

 

 

 

 

 

 

 

Bảng 1: Đối chiếu các ghi chép của Đắc Lộ về Cửa Chúa ở Nghệ An và 3 lần ông tới đây

Bằng việc đối chiếu tư liệu gốc như trên, chúng tôi còn biết được rằng, không phải hễ cứ cửa biển nào có đền thờ Bà Chúa (tức đền thờ Tứ vị) thì Đắc Lộ gọi là Cửa Chúa (theo dân gian). Chỉ với Cửa Cờn, ông mới sử dụng cái tên Cửa Chúa. Điều này có thể thấy qua những ghi chép của Đắc Lộ về Cửa Bạng. Tại Cửa Bạng, nơi mà Đắc Lộ đặt chân đầu tiên khi tới Đàng Ngoài, cũng có một đền thờ Tứ vị giống như Cửa Cờn, đó là đền Lạch Bạng ở làng biển Do Xuyên,xã Hải Thanh,huyện Tĩnh Gia,tỉnh Thanh Hóa (xem Tư liệu mạng 7[5]). Đắc Lộ đã đến ngôi đền này, ghi lại sự tích về vị nữ thần được thờ trong đó (sẽ trở lại cụ thể hơn ở mục 3). Với con mắt của một giáo sĩ, Đắc Lộ xem ngôi đền đó là một thứ dị đoan, nên đã cùng một số người Bồ, dựng một cây thánh giá lớn trên đỉnh cao nhất của một ngọn núi gần đó, và tin rằng nhờ vào thế lực của dấu thánh mà xua đuổi được ma quỉ [Alexandre De Rhodes1651 b: 132; Alexandre De Rhodes1994a: 85 (bản dịch)]. Như vậy, rõ ràng ở khu vực Cửa Bạng cũng có đền thờ Bà Chúa, nhưng Đắc Lộ không hề gọi Cửa Bạng là Cửa Chúa (ông còn qua lại khu vực Cửa Bạng một lần nữa vào năm 1629). Thêm nữa, dù Đắc Lộ muốn đặt tên Cửa Bạng theo tên thánh là Cửa Thánh Giuse/Joseph (để kỉ niệm ngày 19 tháng 3 năm 1627 -như đã trình bày ở trên), nhưng ông không ghi tên mình muốn đó, mà ghi đúng tên Cửa Bạng (Cua Bang) theo cách gọi dân gian trên bản đồ An Nam (xem Hình 2b). Các tên Cửa Chúa, Cửa Rùm, Cửa Sót, Cửa Đáy, Cửa Bích, trên tấm bản đồ đó, có lẽ đều được ghi bằng tên quen dùng trong dân gian như vậy.

Hơn nữa, nếu đối chiếu bản đồ cùng ghi chép của Đắc Lộ về Cửa Chúa với những ghi chép tương tự trong một cuốn kí sự bằng Hán văn đã biết đến rộng rãi trong học giới là Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1790), chúng ta sẽ có được thêm căn cứ để thấy Cửa Chúa chính là Cửa Cờn. Mặc dù thời điểm ghé vào Cửa Cờn trên đường từ Nghệ An ra Thăng Long của Lê Hữu Trác muộn hơn 150 năm so với thời điểm Đắc Lộ tới Cửa Cờn lần đầu tiên (năm 1781 và năm 1629), nhưng có rất nhiều điểm trùng khớp. Trước hết là địa danh “Hoàng Mai/chợ Hoàng Mai” ở gần cầu Kim Lan, tại khu vực Cửa Cờn có ngôi đền “thờ vị thần thiêng nhất Nghệ An” trong ghi chép của Lê Hữu Trác[Lê Hữu Trác (Phan Võ dịch), 1973: 22 - 26]. Chiều ngày 22 tháng Giêng năm Cảnh Hưng 43 (1781), Lê Hữu Trác đã đến chơi ở khu vực chợ Hoàng Mai và nghỉ lại ở đó. Sáng hôm sau, ngày 23, ông và mấy người đến cầu Kim Lan, đứng từ xa mà vái cái đền thiêng nhất Nghệ An ấy, đó chính là đền Cờn. Theo miêu tả của Lê Hữu Trác từ khu đền Cờn đến khe Nước Lạnh - là nơi giáp giới Thanh Hóa và Nghệ An[6] - rất gần về cự li, cũng tức là rất gần với cửa bể Thần Phù. Đối xứng với địa danh Hoàng Mai trong ghi chép của Lê Hữu Trác, ta thấy trên bản đồ của Đắc Lộ có tên sông Vàng Mai (cũng tức là Hoàng Mai, xem Hình 2b), đó là con sông đổ ra biển để tạo thành cửa biển mang tên Cửa Cờn (hay Cửa Lạch Cờn). Khoảng cách gần với khu vực giáp giới hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An của Cửa Chúa cũng đã được Đắc Lộ ghi lại như sau: “Rồi chúng tôi lên buồm đi từ tỉnh Thanh Hóa tới tỉnh Nghệ An và chúng tôi thấy hiện ra bến Bà Chúa, người bản xứ gọi là Cửa Chúa, nơi thờ người con gái hoang dâm đã nói đến ở trên”[Alexandre De Rhodes1994a: 148 (bản dịch)].

  1. Bà Chúa đền Cờn dưới con mắt của một giáo sĩ phương Tây thế kỉ XVII

Như đã trình bày ở trên, giáo sĩ Đắc Lộ từng 3 lần tới Cửa Cờn, và ông cũng biết không phải chỉ ở đó mới có đền thờ Bà Chúa. Ông cũng đã đến đền thờ Bà Chúa tương tự như vậy ở Cửa Bạng (và có lẽ còn ở nhiều nơi khác). Bởi vậy, chúng ta có thể nghĩ rằng, Đắc Lộ đã trực tiếp nghe, không phải chỉ một mà là nhiều lần, về lai lịch của Bà Chúa ở nhiều nơi có đền thờ bà. Điều này làm tăng tính khả tín cho những ghi chép của ông về Bà Chúa.

Đắc Lộ đã viết một khái quan như sau về Bà Chúa được thờ chính ở đền Cờn: “Còn có một chuyện rất phổ biến trong nước. Có một con vua Tàu vì sống quá bê tha nên vua cha bắt ném cho chết đuối dưới biển, nhưng thi hài nổi lên và trôi giạt vào một cửa biển Đàng Ngoài. Ở đây có người dân sở tại bị tai nạn xảy ra cạnh thi hài người con gái này. Dân làng không những đem chôn cất mà còn dâng kính cửa biển như dâng kính một nữ thần bảo hộ và ngày nay đặt tên cửa biển đó là Cửa Chúa nghĩa là cửa biển bà chúa. Từ nơi này chuyện dị đoan đã lan tràn khắp nước An Nam, đến nỗi không có một cửa nhỏ ở suốt dọc bờ biển mà không có một đền dâng kính người con gái bê tha đó. Hết các thương gia và thủy thủ đều đến cúng lễ cho nữ hải thần và vị ngự trị các biển. Một ngày kia Thiên Chúa sẽ cho thấy, như chúng tôi hi vọng, những đền ngoại đạo thờ bà chúa lăng loàn đáng phỉ nhổ này, được dâng kính đức Trinh nữ Nữ vương thiên quốc, ngôi sao biển đích thực, đấng chỉ bảo và phù hộ cứu vớt người trần” [Alexandre De Rhodes1994a: 69 (bản dịch)].

Chúng ta đã biết rộng rãi rằng đền Cờn (tứcCàn Hải môn từ) là trung tâm của tín ngường thờ Tứ vị Thánh nương (TVTN) trong toàn quốc, đó là một tập hợp thần biển có nguồn gốc Trung Hoa, mà sự tích/lai lịch về tập hợp này, như đã trình bày ở các nghiên cứu trước của chúng tôi, có thể thấy trong các cuốn sách quan trọng là Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) và Việt điện u linh (VĐUL), cũng như rất nhiều thần tích thần sắc ở các nơi, nhiều sách địa phương chí hay kí sự (như cuốn Thượng kinh kí sự đã trích dẫn ở trên). Điều đáng chú ý nhất là, sự tích về Bà Chúa, tức TVTN, được ghi trong LNCQ - VĐUL và hầu hết các tài liệu Hán Nôm có độ lệch pha lớn với sự tích trong ghi chép của Đắc Lộ. Một bên là một bà hoàng Trung Hoa trung nghĩa và tiết hạnh (đi kèm theo là hai hay ba người nữa để thành một tập hợpTam vị hay Tứ vị), một bên là một người con gái Trung Hoa (tuy là công chúa, hay con gái vua) nhưng bê tha/hoang dâm/vô đạo đến mức bị cha vứt xuống biển rồi chết đuối! Tuy nhiên, Đắc Lộ chỉ ghi chung chung như vậy mà không chi tiết hóa về cái gọi là bê tha/hoang dâm/vô đạo của người con gái Trung Hoa kia (hoặc giả, người địa phương chỉ cho ông biết đến mức đó).

Đến đây, chúng ta thấy một điều thú vị là, không chỉ tư liệu ở thế kỉ XVII của Đắc Lộ đề cập đến yếu tố hoang dâm trong hình tượng Bà Chúa (Thánh nương)ở đền Cờn, mà còn có cả một tư liệu ra đời ở trước đó một thời gian - nửa cuối thế kỉ XVI. Đó là tiểu mục Tứ vị thánh nương trong cuốn sách đã được học giới chú ý từ lâu là Ô châu cận lục của Dương Văn An.

Trở lại với những ghi chép của Đắc Lộ ở thế kỉ XVII, và đối sánh nó với ghi chép (hay nhuận sắc) của Dương Văn An (hay của một ai đó sau ông) ở thế kỉ XVI, chúng ta sẽ thấy, cùng đề cập đến yếu tố “hoang dâm” của Bà Chúa, nhưng một người thì chỉ cho biết về tính cách dâm của vị thần đó, một người thì chỉ đề cập đến sự thờ phụng lệch lạc mang tính dâm của con dân đối với vị thần. Với ghi chép của Đắc Lộ, ta chỉ biết đó là vị dâm thần nhưng không biết người thờ phụng bà có sử dụng dâm vật trong các ngôi đền hay không. Với ghi chép của Dương Văn An, ta lại chỉ biết là trong đền thờ có dâm vật, còn bản thân tính cách của thần thì lại không rõ có phải dâm thần hay không (về cơ bản, Dương Văn An thuật lại lai lịch của Bà Chúa theo truyền thống đề cao sự trung nghĩa và tiết hạnh của người phụ nữ). Chính sự tương dị và tương đồng ở đây giữa hai cách ghi chép, cũng tức là hai cách nhìn, sẽ gợi ý cho chúng ta những vấn đề khác (chẳng hạn như quá trình biên soạn thần tích về TVTN, quan niệm của Nho gia về dâm thần), nhưng ở đây thì xin tạm gác lại.

Cuối cùng, cần thiết phải nói đến quan điểm của Đắc Lộ về Bà Chúa. Như có thể thấy từ các trích dẫn trên đây, một mặt với tư cách là một người ghi chép khách quan, Đắc Lộ công nhận sự sùng kính nhiệt thành của người đi biển dành cho bà, họ tôn sùng bà như vị thần bảo hộ sinh mệnh trong mỗi chuyến ra khơi, và hễ có dịp ghé qua ngôi đền chính thờ bà ở Cửa Chúa thì nhất định phải vào cầu đảo nếu không lữ trình tiếp đó sẽ không được bình an. Nhưng ở mặt khác, trong tư cách là một thừa sai công giáo, Đắc Lộ cho bà là một hiện thân của ma quỉ cần phải được chinh phục bằng uy lực của Đức Kitô toàn năng; chính bởi thế, ông đã từng dựng cây thánh giá lớn trước đền thờ Bà Chúa ở Cửa Bạng, khi ghé qua Cửa Chúa lần đầu tiên ông cũng không vào đền vái lạy Bà Chúa./.

                               

Tài liệu tham khảo

  1. Alexandre De Rhodes, 1651a, Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum, Romae : Typ. & sumptibus Soc. Congr. de Prop. Fide 1651, Bản chụp kĩ thuật số trên mạng: http://purl.pt/961
  2. Alexandre De Rhodes, 1651b, Histoire du royaume de Tunquin, J.-B. Devenet (Lyon), Bản chụp kĩ thuật số trên mạng: http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k54392965.image.r=19.f2.pagination#
  3. Alexandre De Rhodes (phiên dịch: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính),1991 (1651), Từ điển An Nam - Lusitan - Latinh(Thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La), Nxb Khoa học xã hội
  4. Alexandre De Rhodes (Hồng Nhuệ dịch),1994a (1651), Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài(Histoire du royaume de Tunquin), Ủy ban Đoàn kết Công giáo Tp. Hồ Chí Minh
  5. Alexandre De Rhodes (Hồng Nhuệ dịch),1994b (1653), Hành trình và truyền giáo(Divers voyages et missions), Ủy ban Đoàn kết Công giáo Tp.Hồ Chí Minh
  6. Dương Văn An biên soạn(Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn Nguyên dịch nghĩa, chú thích), 1997, Ô châu cận lục, Nxb Khoa học xã hội
  7. Dương Văn An nhuận sắc - tập thành (Trần Đại Vinh và Hoàng Văn Phúc hiệu đính, dịch chú), 2001, Ô châu cận lục - Tân dịch hiệu chú, Nxb Thuận Hóa

8.Ninh Viết Giao chủ biên, 2004, Văn bia Nghệ An, Nxb Nghệ An

  1. Ninh Viết Giao biên soạn, 2009, Đền Cờn, tục thờ Tứ vị Thánh Nương và quần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương, Nxb Nghệ An
  2. Peter C. Phan, 1998, Mission and Catechesis: Alexandre de Rhodes and inculturation in seventeeth-century Vietnam, Orbis Books, Maryknoll, New York
  3. Trần Minh Công, 2005, “Đền Cờn trong bối cảnh truyền giáo của giáo sĩ Đắc Lộ”, Tạp chí Liên lạc nhân văn sốtháng 7 năm 2005, Website Trung tâm văn hóa Nguyễn Trường Tộhttp://ttntt.free.fr/archive/Tranmingcong.html
  4. Trần Minh Công, 2009, “Đền Cờn trong bối cảnh truyền giáo của giáo sĩ Đắc Lộ”, Website Thân hữu Bình Tuyhttp://www.thanhuubinhtuy.com

 

*.    Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

[1] Về niên biểu của Đắc Lộ (cũng như hành trình truyền giáo của ông tại Việt Nam), có thể xem chi tiết trong Peter C. Phan 1998 : xx-xxiii

[2] Xem trong Alexandre De Rhodes1994a: 157.

[3] “Trương Bá Cần, ở chú thích 88, trang 117,Nguyệt San Công Giáo và Dân Tộc, số 53, tháng 5 năm 1999, viết: "... Cửa chúa đây có thể là cửa Lò hay cửa Quèn ngày nay" [chuyển dẫn từ Trần Minh Công 2005, 2009].

[4] Đây là trích đoạn từ tấm bản đồ ở Hình 1a.

[5] Peter C. Phan cũng cho Cửa Bạng trong ghi chép của Đắc Lộ là khu vực Ba Làng ngày nay. Ông viết: “They arrived at Cua Bang (present - day Ba Lang) on March 19, the feast of Saint Joseph”(Họ - chỉ nhóm Đắc Lộ và những người Bồ Đào Nha, cxg chú - đã cập Cửa Bạng (Ba Làng ngày nay) vào ngày 19 tháng 3, đúng ngày lễ Thánh Joseph) [Peter C. Phan 1998: 48]. 

[6] Tên “khe Nước Lạnh” vẫn được sử dụng hiện nay. Khe này nằm ở địa phận huyện Quỳnh Lưu  tỉnh Nghệ An (xem Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, 2008 b).