PGS. TS. Nguyễn Văn Lịch

Thời gian thấm thoát thoi đưa, mới ngày nào tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970 đến nay đã gần 50 năm! Tuổi trẻ thế hệ chúng tôi lớn lên trong những năm cả nước kháng chiến chống Mỹ cứu nước sục sôi, bạn bè tôi nhiều người vào bộ đội, ra trận, có người hy sinh trên chiến trường. Tôi có may mắn được vào đại học, tốt nghiệp loại giỏi, trong danh sách được giữ lại làm cán bộ giảng dạy khoa Lịch sử nhưng tôi không muốn cuộc sống tương đối bình lặng trên giảng đường đại học nên tôi làm đơn tình nguyện đi chiến trường miền Nam.

Nơi đó em ruột tôi đã khai tăng tuổi để tình nguyện đi chiến đấu từ sau Tết Mậu Thân. Cuộc đời như mở ra những cánh cửa mời gọi chúng tôi bước vào để thử thách, trải nghiệm thực tế chiến đấu của dân tộc. Biết rằng trước mặt là đầy rẫy khó khăn thử thách, mất mát hy sinh nhưng chúng tôi sẵn sàng chấp nhận tất cả.

 Chúng tôi được vào học Lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khóa IV của Hội Nhà văn Việt Nam rồi được phân công đi các chiến trường. Tôi được làm việc ở Ban Tuyên Huấn Trung ương cục miền Nam từ năm 1971 đến cuối 1975, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4.1975, tiếp quản các cơ quan thông tin, báo chí, văn hóa, giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở Sài Gòn. Sau mấy tháng công tác ở Ủy ban Quân quản Sài Gòn Gia Định, từ tháng 10.1975, tôi chuyển về làm việc ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn…

 Từ cuối năm 1978, tôi đi học nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Tôi may mắn được nghiên cứu ở Viện các nước Á Phi, Đại học Quốc gia Matxcơva. Thầy hướng dẫn tôi là GS Đ.V.Đeopic, một trong những nhà Việt Nam học hàng đầu của Liên Xô. Đề tài luận án của tôi là “Lịch sử sử học Xô viết về phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á thời kỳ cận hiện đại”. Hơn bốn năm miệt mài học tập nghiên cứu, tôi cố gắng tích lũy những kiến thức về lịch sử thế giới, về Liên Xô, các nước Viễn Đông và Đông Nam Á. Bộ môn nơi tôi học là Bộ môn Lịch sử Viễn Đông và Đông Nam Á do GS Viện sỹ A.A. Guber sáng lập và đào tạo. Tôi cũng tìm hiểu về Khoa Đông phương học của Trường Đại học Quốc gia Lêningrad, nay là Saint Peterburg. Chính trong những năm này tôi đã nung nấu ý tưởng xây dựng ngành Đông phương học/Đông Nam Á học/Việt Nam học ở Việt Nam. Giữa năm 1983 tôi về nước, trở lại tiếp tục làm việc ở khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.

Năm 1984, tôi tham gia đoàn khảo sát thực địa của Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh ở tỉnh Kiên Giang để thực hiện đề tài Địa chí văn hóa tỉnh Kiên Giang do anh Bùi Khánh Thế làm chủ nhiệm. Trong những ngày đó, tôi và anh Thế bàn bạc về đề án thành lập bộ phận nghiên cứu khoa học về Đông Nam Á trong đó bao gồm cả Việt Nam vì nước ta thuộc khu vực này. Sau đó, năm 1985 chúng tôi chấp bút viết Đề án thành lập tổ chức nghiên cứu Việt Nam-Đông Nam Á. Khi đó ở Hà Nội, trong hệ thống Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, ngoài các viện nghiên cứu truyền thống mới thành lập thêm Ban Đông Nam Á và Trung tâm châu Á-Thái Bình Dương, còn trong hệ thống đại học, mô hình trung tâm /viện nghiên cứu còn khá lạ lẫm, mới mẻ. Lúc đó anh Bùi Khánh Thế là Phó Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Tổng hợp. Chúng tôi trao đổi, thuyết phục lãnh đạo trường nên Đề án được đưa ra Hội đồng khoa học trường xem xét. Hội đồng đánh giá tốt ý tưởng và nội dung đề án nhưng còn một số ý kiến băn khoăn, dè dặt về mô hình và tính khả thi của đề án này. Sau đó, anh Bùi Khánh Thế được Bộ Giáo Dục cử làm trưởng đoàn chuyên gia giáo dục ở Campuchia từ 1986 đến 1989 nên bản đề án không tiến triển.

Đến cuối năm 1989, sau khi anh Thế hoàn thành nhiệm vụ ở Campuchia trở lại trường, chúng tôi tích cực thúc đẩy đề án trên. Chúng tôi liên kết với báo Sài Gòn giải phóng tổ chức cuộc toạ đàm về tính cấp thiết phải đào tạo nghiên cứu Đông Nam Á. Nội dung cuộc tọa đàm được tường thuật, đăng trên hơn nửa trang 2 báo Sài Gòn giải phóng. Bài báo thu hút sự chú ý của công luận, nhận được phản hồi tích cực. Nhiều cuộc điện thoại từ TP Hồ Chí Minh và Hà Nội… gọi tới Trường Đại học Tổng hợp và tòa sạn báo Sài Gòn giải phóng ủng hộ việc sớm thành lập một đơn vị đào tạo nghiên cứu Đông Nam Á. Bản Đề án được chỉnh sửa hoàn tất kèm theo tờ trình của Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo. Lúc đó ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo  đã quyết định thành lập các trung tâm như Trung tâm châu Á-Thái Bình Dương, Trung tâm Hợp tác và giao lưu quốc tế, Trung tâm Tài nguyên môi trường. Đến ngày 14.3.1990, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định thành lập Trung tâm nghiên cứu Việt Nam-Đông Nam Á tại Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.  

Sau khi nhận quyết định của Bộ, GS. Hiệu trưởng Lý Hòa mời anh Bùi Khánh Thế và tôi lên bàn về tổ chức nhân sự và nội dung, nhân sự và cơ chế hoạt động của Trung tâm. Theo quyết định của Bộ trưởng, trung tâm có con dấu riêng, tài khoản riêng, tự hạch toán. Như vậy từ ý tưởng, đề án đến thành lập trung tâm là một chặng đường 5 năm. Nhưng làm gì để trung tâm tồn tại và phát triển còn gian nan hơn nhiều…

 Tôi còn nhớ vào dịp đại hội đại biểu công nhân viên chức của trường tháng 10.1990, có người còn chất vấn: Tại sao thành lập Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam-Đông Nam Á? Phương Tây người ta có ngành Đông phương học để nghiên cứu phương Đông, mình là Việt Nam, là nước Đông Nam Á, có giỏi thì nghiên cứu phương Tây, Mỹ, chứ nghiên cứu Việt Nam, Đông Nam Á…làm gì? Đại hội mất khá nhiều thời gian tranh luận về vấn đề này…

Ngay từ buổi đầu mới thành lập, chúng tôi xác định phương châm đoàn kết nhất trí, một lòng vì sự tồn tại và phát triển của Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam-Đông Nam Á. Nghiên cứu ở đây là nghiên cứu ứng dụng nên không đi vào những vấn đề lý thuyết. Những vấn đề Việt Nam học, Đông Nam Á học,  Đông phương học, Khu vực học (Area studies) người ta đã nghiên cứu nhiều.Việt Nam là một nước Đông Nam Á, một phần cấu thành của khu vực nên cần tiếp cận theo hai hướng từ bên trong (nội quan) và từ bên ngoài (ngoại quan), từ chỗ hiểu mình rồi nghiên cứu so sánh với các đối tượng khác ở Đông Nam Á; từ Đông Nam Á mở rộng ra các nước lân cận thuộc Đông Á, Nam Á, Châu Á-Thái Bình Dương và thế giới. Một phương châm nữa là “lấy ngắn nuôi dài”, lấy dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam làm nhiệm vụ quan trong hàng đầu. Vì vậy, chúng tôi tập trung biên soạn bộ giáo trình Tiếng Việt 6 cấp độ (Tiếng Việt cho người nước ngoài 1,2,3,4,5,6) và các sách, tài liệu bổ trợ. Nhiệm vụ này đã hoàn thành tốt. Sau mấy năm đã có một bộ sách Tiếng Việt đưa vào giảng dạy, vừa dạy vừa rút kinh nghiệm, hàng năm sửa chữa, bổ sung. Đến khi được giới chuyên môn và học viên, sinh viên đánh giá tốt mới chính thức xuất bản, sách do Nxb. Giáo Dục, sau ở Nxb. ĐHQG HCM xuất bản.

Năm 1998 đánh dấu sự phát triển của Việt Nam học ở Việt Nam và quốc tế. Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất được long trọng tổ chức tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, quy tụ gần 1000 người, trong đó có hàng trăm nhà Việt Nam học hàng đầu của quốc tế (các nước châu Âu như Pháp, Anh, Nga, Đức, Hà Lan; Hoa Kỳ; các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan; Australia v.v…). Hội nghị tạo ra xung lực, cú hích lớn cho ngành Việt Nam học trong nước phát triển. Cũng năm này, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn và ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh đã nhận thức nhạy bén, quyết định thành lập Khoa Việt Nam học trên cơ sở bộ môn Việt Nam học tách ra từ Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam-Đông Nam Á. Chúng ta đã kịp thời nắm bắt cơ hội, thúc đẩy khoa Việt Nam học phát triển. Như vậy, chặng đường thứ hai [1990-1998] hết sức quan trọng, đặt nền móng cho khoa Việt Nam học phát triển. Đó trước hết là con người. Chúng tôi đặt ra nhiệm vụ cho tất cả cán bộ phải học tập nâng cao trình độ lên thạc sỹ, tiến sỹ. Phải chuẩn bị cơ sở vật chất, từ nơi làm việc, lớp học đến thư viện vì sách cuả thư viện không đủ đáp ứng yêu cầu học tập nghiên cứu. Phải mở rộng mối quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế. Nếu không có quan hệ hợp tác quốc tế rộng mở thì không có sinh viên đến học. Qua hợp tác quốc tế chúng ta buộc phải nâng cao trình độ chuyên môn, tác phong làm việc khoa học nhanh nhậy…đáp ứng yêu cầu của các đối tác.

   Ngay sau khi thành lập khoa Việt Nam học, chúng tôi xây dựng chương trình đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học theo học chế tín chỉ. Khi đó ngành đại học Việt Nam đang chuyển đổi sang học chế tín chỉ nhưng nhờ hợp tác với nhiều trường nước ngoài từ trước nên chúng tôi không gặp bỡ ngỡ, nhanh chóng bắt kịp tình hình. Sau khi Hội đồng khoa học trường phê duyệt chương trình, từ năm học 1999-2000, khoa bắt đầu tuyển sinh đào tạo cử nhân hệ chính quy ngành Việt Nam học cho người nước ngoài.

 Sau khi thành lập Khoa Việt Nam học một thời gian không lâu, tôi còn nhớ cuộc gặp và trò chuyện với GS. Nguyễn Tài Cẩn, nhà ngôn ngữ học và Việt Nam học hàng đầu của nước ta khi thầy thăm trường. Thầy nói đại ý là việc thành lập khoa Việt Nam học là rất kịp thời, đúng lúc. Nền khoa học của nước ta nhìn tổng thể còn lạc hậu so với thế giới, các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và cả các ngành kinh tế, khoa học xã hội nhân văn mình đều phải đi học thiên hạ…, chỉ có một ngành duy nhất thiên hạ phải đến Việt Nam, phải học ta đó là Việt Nam học. Nhưng muốn làm thầy thiên hạ được thì mình phải tự nâng mình lên, phải giỏi mới làm thầy người ta được. Trên thế giới có nhiều người yêu mến, thích tìm hiểu nghiên cứu Việt Nam. Đừng tưởng mình hiểu hết về Việt Nam đâu nhé! Có nhiều nhà Việt Nam học nước ngoài rất giỏi, họ có phương pháp khoa học chuyên sâu, có cách tiếp cận từ bên ngoài khách quan…Họ sẽ là những người phản biện, góp ý cho chúng ta. Có khi mình phải học hỏi từ những nhà Việt Nam nước ngoài đấy! Mỗi khi nhớ lại câu chuyện với thầy Nguyễn Tài Cẩn, tôi vẫn thấy thấm thía.

   Nhờ có sự đoàn kết và làm việc khoa học, chăm chỉ của toàn thể cán bộ nhân viên của khoa nên khoa Việt Nam học đã khẳng định vai trò trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Không phải ngẫu nhiên mà chương trình đào tạo Việt Nam học tham gia đánh giá ngoài là chương trình đầu tiên được đánh giá đạt chuẩn của mạng lưới đại học Đông Nam Á [AUN-QA] vào tháng 01 năm 2012.

    Tôi có may mắn được giao nhiệm vụ xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam-Đông Nam Á, Khoa Đông phương học, rồi Khoa Việt Nam học từ những ngày đầu “Vạn sự khởi đầu nan”. Nhờ tập hợp, đoàn kết chúng ta đã vượt qua những khó khăn ban đầu để từng bước phát triển, trưởng thành như ngày hôm nay. Chặng đường 20 năm với một ngành khoa học, một khoa chỉ là những bước chập chững đầu tiên. Chúng ta cần phấn đấu nhiều hơn nữa để xây dựng Khoa Việt Nam học ngày càng phát triển vững vàng hơn, góp phần làm cầu nối Việt Nam với thế giới, để bạn bè quốc tế đến Việt Nam nhiều hơn, hiểu Việt Nam hơn, góp phần thực hiện đường lối Đổi Mới nói chung, đường lối đối ngoại rộng mở “Việt Nam là bạn của tất cả các nước, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế”.