Th.S Bùi Thị Phương Chi

Tôi vốn là giáo viên khoa Ngữ Văn Nga, do tình hình chính trị thế giới thay đổi giáo viên Khoa Nga chúng tôi mỗi người tìm một hướng đi. Người thì chuyển sang công ty khác, người thì đi dạy tiếng Anh cho các trường đại học khác. Và thế là số phận đưa tôi đến với tiếng Việt cho người nước ngoài từ năm 1993.

Sau khi đã tích lũy được một số kinh nghiệm và qua khóa học về Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài do Viện Khoa học Xã hội tổ chức, học được nhiều kinh nghiệm quý báu của các thầy giáo nổi tiếng trong lĩnh vực dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và ngôn ngữ học như thầy Nguyễn Tài Cẩn, thầy Nguyễn Anh Quế, thầy Hoàng Trọng Phiến, thầy Phan Văn Giưỡng, thầy Cao Xuân Hạo, Võ Xuân Trang, v.v. năm 1995 tôi bắt đầu xin vào Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á (ĐNA) và giảng dạy từ đó đến nay.

Thời ấy, lớp học trong các dãy nhà tồi tàn, nóng bức, đến khi hai đầu hành lang tầng 2, tầng 3 dãy nhà A được ngăn lại thì chúng tôi có thêm vài phòng học có vẻ khang trang hơn một chút, có khi thiếu phòng học, Khoa Việt Nam học phải thuê hay mượn tạm văn phòng Khoa Nga, văn phòng Trung tâm ĐNA để dạy. Phòng học ngăn bằng vách mỏng, người dạy bên này nghe rõ người dạy bên kia.  Tài liệu giảng dạy rất hạn chế. Giáo trình thời ấy có nhiều loại. Thời còn là Trung tâm đã sử dụng giáo trình dạy tiếng Việt do GS Việt kiều viết, những từ ghép được nối bằng gạch ngang, Giáo trình tiếng Việt (song ngữ) của GS. Phan Văn Giưỡng xuất bản ở Úc, Giáo trình dạy tiếng Việt của PGS. Bùi Phụng từ Hà Nội, Giáo trình tiếng Việt do các thầy cô trong Khoa viết. Thời ấy, tài liệu nghe nhìn thật khó tìm. Chúng tôi đã phải dùng những chiếc máy cassette nhỏ để ghi âm lại các bản tin phát trên đài hay ghi âm lại giọng đọc của giáo viên. Trong những năm đầu, học viên phần lớn là nhân viên công ty lớn, có vốn tiếng Anh kha khá, có mục tiêu rõ rệt, các lớp không đông, thường khoảng 4-7 người. Mặc dù điều kiện rất khó khăn nhưng tình cảm thầy trò khá thân thiết. Khoa Việt Nam học phát triển nhanh, số lượng học viên học theo nhu cầu của riêng mình tăng mạnh. Nhiều trường mở ngành Việt Nam học, nhiều trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ra đời, cạnh tranh với chúng ta, cạnh tranh ngay trước cửa trường như Trường tiếng Việt Sài Gòn. Khoa Việt Nam học của chúng ta vẫn đứng vững và phát triển.

Sở dĩ Khoa Việt Nam học phát triển hơn những Khoa, Trung tâm dạy tiếng Việt khác trong thành phố là vì từ những ngày khó khăn ấy, lãnh đạo Trung tâm Đông Nam Á – Khoa Việt Nam học luôn lấy quyền lợi của học viên lên làm đầu, chăm sóc, quan tâm đến từng học viên. Thời ấy, việc sinh viên được chăm sóc như “thượng đế” có lẽ còn khá xa lạ, nhưng ở Khoa Việt Nam học học viên được quan tâm, được tạo điều kiện tham gia vào các hoạt động gắn kết với nhau như các buổi tiệc đón Năm Mới, sau này là các Ngày lễ hội Việt Nam học, Orientation. Giáo viên chúng tôi cũng cố gắng hết sức để không chỉ làm người dạy về kiến thức mà còn là những chiếc cầu kết nối các nền văn hóa trên thế giới với nền văn hóa Việt Nam. Chúng tôi giúp các học viên vượt qua những cú sốc văn hóa, những áp lực trong công việc, những nỗi cô đơn khi sống ở một đất nước xa lạ. Nhiều học viên kiên trì học với chúng tôi 5-10 năm chỉ vì họ đến với chúng tôi để được giải tỏa căng thẳng, để được nói chuyện, để được cảm thông, chia sẻ.

Đến ngày hôm nay Khoa Việt Nam học đã phát triển rất mạnh, số lượng học viên tăng không ngừng, các chương trình liên kết với các trường đại học và các tổ chức trên thế giới tăng hàng năm. Khoa Việt Nam học đã trở thành Khoa có số lượng học viên nước ngoài đứng đầu trong cả nước. Đó là kết quả của sự nỗ lực trong nhiều năm của cả tập thể từ sự chỉ đạo đúng đắn của Ban chủ nhiệm Khoa, từ sự nhiệt tình, tích cực và đầy trách nhiệm của từng giáo viên trong Khoa cũng như các thầy cô thỉnh giảng cho Khoa. Trong dịp lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Khoa, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến những người thầy, những vị lãnh đạo Khoa từ những tháng ngày khó khăn đó: Thầy Bùi Khánh Thế, cô Đinh Lê Thư, thầy Nguyễn Văn Lịch, thầy Nguyễn Văn Huệ, cô Trần Thị Minh Giới.