Phạm Thị Thu Hà*

 Nguyễn Quang Huy**

  1. Giới thiệu

Sau Thế chiến thứ nhất, giới công thương người Việt bắt đầu bành trướng các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Hoạt động kinh tế của báo chí[1] lúc ấy đã bắt đầu phát triển, và giới doanh nghiệp đã biết sử dụng kênh thông tin này để khuếch trương hoạt động - khác hẳn với tình hình phôi thai của báo chí nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khi mà báo chí chưa có mục quảng cáo, và số lượng độc giả cũng còn rất ít ỏi” (Trần Hữu Quang, 2006, tr.205-206).

Doãn Chính(*) & Phạm Đào Thịnh(**)

 Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn. Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, một số nhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởng chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn.

Phạm Đức Mạnh*

Mộ “hợp chất” (tombeaux en mélange cimentaire; mummy tombs; compound burials) là đối tượng nghiên cứu quan trọng của Khảo cổ học lịch sử Việt Nam, từ trước năm 1945 đã được người Pháp khai quật ở Hải Dương (mộ Võ tướng thời Lê Đinh Văn Tả) và ở Sài Gòn (mộ Thượng thư thời Nguyễn Trần Văn Học). Sau đó là các cuộc đào của Viện Khảo cổ học từ 1969 đến nay (các ngôi mộ của vua Lê Dụ Tông ở Bái Trạch và vợ chúa Trịnh là bà Ngọc Tú ở Hà Trung – Thanh Hóa, Hoàng hậu Lê Dương Thị Bi ở Nhân Giả – Hải Phòng, các phu nhân Quận công Bùi Thị Khang ở Hà Nội và Phạm Thị Nguyên Chân ở Nam Định, Quan Đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh ở Hải Dương,…) (Đỗ Văn Ninh, 1971).

Hà Đặng

Ấn phẩm Cuộc săn chuột lớn ở Hà Nội: Đế quốc, dịch bệnh và tính hiện đại tại Việt Nam thuộc Pháp1 đã phơi lộ một dấu ấn lịch sử hài hước và tăm tối đến từ những sinh vật truyền bệnh vùng nhiệt đới, cho thấy cuộc vật lộn của chính quyền thực dân trong việc giải quyết vấn đề tưởng chừng như quá đơn giản, nhỏ nhặt.

TS Trần Thanh Ái

Hiểu một nhân vật lịch sử đã khó, và khoảng lùi thời gian càng lớn thì độ khó càng cao. Hiểu một nhân vật lịch sử đã gây ra quá nhiều dị biệt trong cách đánh giá như Trương Vĩnh Ký lại càng khó gấp bội: những người khen thì không tiếc lời ca ngợi, thậm chí ca ngợi một cách ngây ngô, còn người chê thì cũng không dè xẻn những từ ngữ xấu xa nào, như “người hèn nhát”, “tên gian điệp”, “kẻ bán nước”… Để không rơi vào một trong hai thái cực này, người nghiên cứu cần phải hết sức khách quan và thận trọng, từ khâu sưu tầm tài liệu, đến khâu dịch văn bản bằng tiếng nước ngoài, đánh giá sự kiện.

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh*

  1. Đặt vấn đề

Nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động quan trọng trong diễn trình phát triển của Việt Nam và Đài Loan, đánh dấu sự chuyển mình rõ nét trên mọi phương diện của đời sống xã hội. Một mặt, đây là thời kì chứng kiến sự chuyển nhượng từng bước và đi đến từ bỏ hoàn toàn vai trò “bảo hộ”, “tôn chủ” lâu đời của nhà Thanh đối với Việt Nam, Đài Loan cho thế lực thứ ba là thực dân Pháp (đối với Việt Nam) và đế quốc Nhật (đối với Đài Loan), từ đây, cả Việt Nam và Đài Loan đều rơi vào tay thực dân, đế quốc, trở thành nước thuộc địa hay bán thuộc địa; mặt khác đây cũng là thời kì sôi động diễn ra các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân hai nước: từ chỗ chỉ đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX sang kết hợp với các phong trào đấu tranh chính trị và văn hóa sôi nổi mang đậm màu sắc dân chủ tư sản trong buổi đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt*

ĐẶT VẤN ĐỀ

So với các nước trong khu vực, người Hoa di cư sang Việt Nam từ khá sớm. Không kể binh lính và các đội quân, việc người Hoa di cư vào Việt Nam rồi định cư ở đây thường diễn ra phổ biến từ sau các cuộc nội chiến ở Trung Quốc[1]. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền Bắc - Trung - Nam Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ thế kỉ XVII đến XIX, những thương buôn và đội ngũ quan quân thất bại trong phong trào “Phản Thanh phục Minh” chạy đến Đàng Trong xin yết kiến chúa Nguyễn và xin tỵ nạn. Chúa Nguyễn đã dùng họ đi khai phá các vùng đất mới ở Nam Bộ. Trải qua quá trình sinh sống, họ đã lập nên những làng, những phố của mình; hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt.

TRẦN ĐÌNH HƯỢU (1927-1995)

 Phong trào Đông kinh nghĩa thục, đúng như các cụ lúc ấy hình dung là  “một trận gió”, “một đợt sóng”từ nước ngoài tràn vào, lôi cuốn cả nước như một ngọn thủy triều khí thế ngất trời: chống vua quan, tư sản hóa theo Âu Mỹ, hợp đoàn, học nghề, cải cách dân chủ... Đứng đầu phong trào là các nhà khoa bảng lớn, và phong trào lan rộng từ Bắc chí Nam, khuấy động cả rất nhiều vùng nông thôn hẻo lánh, chưa có mầm mống gì của kinh tể và xã hội tư sản.

Một nhân vật không trực tiếp thành lập Đông kinh nghĩa thục, không chi phối toàn bộ tư tưởng và hoạt động của Đông kinh nghĩa thục, nhưng rất cỏ uy tín và lại tiêu biểu cho vận mệnh của phong trào Đông kinh nghĩa thục là Phan Châu Trinh.