Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về tiếng Việt dùng trong Kinh Lạy Cha (KLC) qua các văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Tiếp theo bài viết `5A, bài 5B sẽ ghi nhận thêm các dữ kiện nhìn KLC từ các lăng kính khác nhau, hi vọng người đọc sẽ thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn.

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

Hồng Thanh Quang: Với tư cách của một người từng đi du học tại một số trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, và cũng là một chuyên gia hàng đầu về luật pháp, anh có thể nói gì một cách chung nhất về ý thức tuân thủ pháp luật của người Việt Nam ta?

Nguyễn Ngọc Dung*

Chủ nghĩa Marx là hệ thống những luận điểm và học thuyết về triết học, kinh tế - chính trị và chủ nghĩa xã hội. Như Lenin - người tiếp tục phát triển chủ nghĩa Marx về sau - đã xác nhận: “Nó [tức chủ nghĩa Marx - NND] là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp” (V.I Lenin, 1980, tr.50).

*     Phó giáo sư, Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG-HCM.

Nguyễn Đức Mậu*

Nguyễn Trường Tộ đặt ra hàng loạt vấn đề để cải cách, mỗi vấn đề như vậy thường xuất phát từ mong muốn bảo vệ, phát triển đất nước. Trong các cải cách đó, có việc vì hướng đến như một cần kíp để đối phó kịp thời nguy cơ mất nước, có việc hướng đến lâu dài, có việc nếu muốn thực hiện thì phải giải phóng khỏi quan niệm, thói quen, cách nghĩ hay phải nhìn nhận lại sự kháng cự lại của những cái đó.

*     Tiến sĩ, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Nguyễn Công Lý*

  1. Giới thiệu chung

Khái niệm “thời Lý - Trần” được chúng tôi dùng trong bài viết này không chỉ là tính riêng hai triều đại Lý và Trần, mà là một khái niệm dùng để chỉ chung cho một thời đại ở Việt Nam kéo dài ngót năm trăm năm tính từ ngày nước nhà giành lại độc lập tự chủ sau chiến công của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào mùa đông năm 938, để mùa xuân năm sau (939) lên ngôi, xưng là Ngô Vương Quyền, cho đến năm 1414 là năm đánh dấu cuộc khởi nghĩa chống quân Minh (Trung Quốc) của nhà hậu Trần bị thất bại. Thời đại này trải qua các triều đại:

Ngô Văn Lệ*

  1. 1. Đặt vấn đề

Các tộc người trong quá trình phát triển đã tích lũy những tri thức không chỉ góp phần vào sự phát triển chung, mà còn làm phong phú văn hóa trong những điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của khoa học và tiến bộ khoa học đã làm cho tri thức địa phương mất dần vai trò trong đời sống cộng đồng, chỉ còn lại ở dạng tàn dư. Đánh giá một cách khách quan, toàn diện và hệ thống về vai trò của tri thức bản địa đối với sự phát triển của các tộc người là một vấn đề rất khó khăn, đòi hỏi không chỉ về thời gian, mà cả các nguồn lực khác. Bởi vì, tri thức bản địa gắn liền với một tộc người, với một địa bàn nhất định.

*     Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Ngô Thị Phương Lan*

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ kết quả nghiên cứu về nợ và các hệ quả kéo theo của nó trong sản xuất của các dân tộc ở vùng Tây Nguyên như là hệ lụy của quá trình chuyển đổi sinh kế từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa để đáp ứng cho thị trường[1], chúng tôi đặt ra câu hỏi liệu tín dụng “đen” trong sản xuất có phải là trường hợp phổ biến tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam vốn sống trong các tiểu vùng văn hóa - kinh tế - xã hội khác nhau? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã tìm đến các cộng đồng tộc người thiểu số ở một vùng sinh thái khác cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình sản xuất cùng một loại cây nông nghiệp hàng hóa (ngô lai và cà phê) như các dân tộc ở Tây Nguyên và ở các cộng đồng này cũng có hiện tượng vay nợ trong sản xuất.

*     Phó giáo sư, Tiến sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG - HCM.

[1]     Xin xem kết quả báo cáo Hoàng Cầm, Ngô Thị Phương Lan, Hoàng Anh Dũng, Vũ Thành Long và Nguyễn Văn Giáp (2017), “Chuyển đổi sinh kế và vấn đề tín dụng ở một số tộc người thiểu số tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.” Nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) tài trợ. Báo cáo dự án;

Lee Yung Lung  (Lý Vĩnh Long)*

Công bằng xã hội có thể xem là mục tiêu và là chiến lược quốc gia của Việt Nam, trong đó, việc thực hiện công bằng xã hội chỉ được giải quyết triệt để khi và chỉ khi công bằng phân phối được giải quyết. Công bằng trong phân phối có thể xem là nguyên nhân căn bản để thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội. Nó phản ánh tính cân bằng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nghĩa vụ và lợi ích, giữa năng suất lao động và nhu cầu được hưởng lợi từ năng suất ấy.

*     Ph.D. Political Science, USSH, Vietnam National University of Hanoi.

      Assistant Professor, International College, Providence University (Đại học Tịnh Nghi), Taiwan.