Đặng Thị Thái Hà
Thạc sĩ, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

David G. Marr, trong suốt sự nghiệp của mình, đã dành sự chú tâm đặc biệt đến xã hội Việt Nam thời hiện đại. Trong những công trình như Vietnamese Anticolonialism 1885-1925 [Chủ nghĩa chống thuộc địa Việt Nam: 1885-1925] (1971), Vietnamese Tradition on Trial [Truyền thống Việt Nam trước thử thách: 1920-1945] (1981), ông đã không chỉ đưa ra một cái nhìn khái quát về xã hội Việt Nam từ tiền-hiện đại đến hiện đại nói chung mà còn phơi lộ tình thế phức tạp mà quốc gia này phải đối diện trong những cuộc chạm trán đầu tiên với phương Tây.

Đặng Hoàng Giang

Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HN.

  1. Đặt vấn đề

Trong các thập niên gần đây, song song với xu hướng hội nhập, liên kết giữa các vùng miền, quốc gia, khu vực thì vấn đề bản sắc địa phương cũng được thảo luận sôi nổi trên nhiều diễn đàn trong nước và quốc tế. Bản sắc địa phương được xem là cơ sở quan trọng tạo nên lợi thế so sánh giữa các vùng miền. Bởi lẽ đô thị là trung tâm của các địa phương hoặc tự thân nó đã là một loại địa phương đặc biệt nên các thảo luận về bản sắc địa phương không tách rời chủ đề bản sắc đô thị.

Chuang Chiu Chun

Nghiên cứu viên Sau Tiến sĩ, Khoa Văn học Trung Quốc, Đại học Quốc lập Thành Công, Đài Loan.

  1. Dẫn luận

Việt Nam và Trung Quốc đã từng giao lưu với nhau trong một khoảng thời gian rất dài. Kể từ năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất Việt Nam, xây dựng quốc gia Đại Cồ Việt, đồng thời nhận được sách phong của vua Tống Thái Tổ, cũng từ đó Việt Nam bắt đầu xem Trung Quốc như một nước tông chủ, theo định kỳ phái sứ đoàn đi Trung Quốc, tiến hành những công việc ngoại giao như thỉnh phong, tạ ân, cáo ai, tuế cống,…

Cao Tự Thanh

Nói tới quá trình hiện đại hóa của văn học hiện đại Việt Nam cuối thế kỷ XIX, ai cũng phải nghĩ tới Trương Vĩnh Ký. Nhưng khác với những hiện tượng như Nguyễn Đình Chiểu mà hơn một thế kỷ qua bất cứ lực lượng chính trị hay văn hóa nào ở Việt Nam cũng phải khẳng định hay thừa nhận, đây lại là một hiện tượng đa diện và đa nghĩa.

Tác giả: Nguyễn Thụy Phương

Lời tòa soạn: Giới học thuật trong nước vừa dấy lên cuộc tranh luận xung quanh cuốn sách ‘Tâm lý dân tộc An Nam’, mới được tái bản của Paul Giran, giữa một bên cho rằng cần phải chấp nhận, biết ơn những nhận xét thẳng thắn của tác giả để hiểu thêm về tâm lý dân tộc An Nam, với một bên phản đối những phê phán sự hèn kém của một dân tộc này so với dân tộc khác và cái gọi là trách nhiệm đi khai sáng, dựa trên tiến hóa luận và phân biệt chủng tộc sâu sắc. Để có một điểm tựa cho thảo luận, cần phải nhìn lại tường tận gốc rễ vấn đề này, hiểu rõ quan điểm của Paul Giran xuất phát từ nền tảng nào. Do đó, cùng thảo luận lại luận thuyết ‘sứ mệnh khai hóa’ đã được hình thành, xây đắp, biện hộ và sử dụng cho công cuộc khai thác thuộc địa trong suốt thế kỷ 19 ra sao, là điều cần thiết.

Tác giả: Vũ Đức Liêm

Bài viết này đặt lại vấn đề tiếp cận quan hệ “triều cống” như mô thức trung tâm trong các nghiên cứu quan hệ giữa Đông Nam Á với Trung Hoa. Thông qua việc khảo sát tương tác giữa các vương quốc Đông Nam Á với nhà Tống (thế kỷ X-XIII), bài viết lập luận rằng có sự dịch chuyển liên tục trong cấu trúc tương tác giữa Trung Hoa với Đông Nam Á mà khái niệm “triều cống” tỏ ra cứng nhắc và không phản ánh hết được những thay đổi của mô hình tương tác này, bao gồm việc di cư và sự bùng nổ của thương mại tư nhân.

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Khi nói những gì đó về “người Việt” như một tập hợp có chung tính cách và tâm lý, tôi chợt nhớ ngay điều mà một vài bạn trẻ nhắc nhở: có vẻ như vấn đề này chỉ rõ rệt trong điều kiện đầu thế kỷ XX; còn ngày nay điều nổi lên lại là những lựa chọn cá nhân vốn thường đa dạng, việc nói đến những nội dung tính cách hay tâm lý chung của “người Việt” liệu có khả chấp hay chăng, nhất là xét về mặt phương pháp?

Tác giả: Lê Trai

“Trên đỉnh tháp cao nhất, một ngọn lửa lớn bốc cao giữa hai gác chuông. Những tia lửa cuộn xoáy.  Một ngọn lửa lớn lộn xộn, giận dữ, gió cuốn lên từng mảng trong màn khói mù mịt. […] Một sự câm lặng kinh hoàng giữa đám ăn mày. Chỉ nghe tiếng kêu báo động của những phụ tá linh mục bị nhốt trong tu viện. 

[…] Bóng của những tòa tháp khổng lồ phóng to lên, trùm lên mái nhà của Paris. Trong ánh sáng chúng tạo thành những khoảng tối…”