Tác giả: Nguyễn Thị Minh

1.

Với một tôn chỉ mục đích rõ ràng: hướng về cái mới, làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không còn hợp thời, đưa phương pháp khoa học thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt, Tự lực văn đoàn đã có công lao to lớn trong việc hiện đại hóa nền văn học nước nhà. Các cuốn tiểu thuyết từng làm say lòng thế hệ thanh niên một thuở không chỉ bởi các luận đề xã hội đầy tính cách mạng và tinh thần nhân văn mà còn bởi khả năng đi sâu vào những biến thái tinh vi trong lòng người bằng một văn phong trong sáng, thi vị, một kết cấu trần thuật hiện đại[1]Đời mưa gió của Nhất Linh, Khái Hưng là một trường hợp như thế. Tác phẩm là một hành trình đi vào thế giới tâm hồn sâu thẳm của con người với những chỗ khuất khúc, quanh co bí mật. Không chỉ dừng ở tầng ý thức, nhà văn còn đưa người đọc tới cõi vô thức tối tăm để cùng khám phá và suy ngẫm. Vì vậy, tiểu thuyết không có nhiều sự kiện éo le, tình tiết li kì nhưng vẫn lôi cuốn, hấp dẫn, để lại ấn tượng khó quên.

Lê Thị Hồng Minh*

  1. Phần mở đầu

Tục ngữ, thành ngữ là những hiện tượng văn hóa, ý thức xã hội. Dòng chảy ngôn ngữ không ngừng vận động, biến đổi và luôn sản sinh, làm phong phú, mới mẻ cho đời sống ngôn ngữ. Trong những năm qua, bên cạnh việc sử dụng những câu tục ngữ, thành ngữ dân gian, người Việt, đặc biệt là các bạn trẻ, còn thích sử dụng các cụm từ cố định mới (CTCĐM). Nhiều CTCĐM này có thể được xem là những câu tục ngữ, thành ngữ mới.

*     Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

Lại Nguyên Ân

1/ Xung quanh những bài thơ nôm được truyền tụng của Hồ Xuân Hương, hai luồng ý kiến “khen” và “chê” tồn tại dai dẳng − có lẽ đã từ rất lâu, và có thể đoán rằng ngay từ khi những bài thơ ấy xuất hiện và bắt đầu sống trong trí nhớ của các thế hệ công chúng − có một điểm đụng độ nhau kịch liệt. Ấy là chỗ mà người ta gọi là cái “tục và dâm”: Có phải là có cái “tục và dâm” trong những bài thơ ấy? ý nghĩa của nó ra sao?

Lê Sỹ Đồng*

MỞ ĐẦU

Người Việt Nam với trầm tích văn hóa lâu đời đã thể hiện rất nhiều triết lý trong quan niệm nhân sinh về những khía cạnh khác nhau trong cuộc sống. Những triết lý ấy được lưu lại trong cách xây nhà dựng cột, trong cách ăn nếp ở, trong hành vi, tiếng nói,… và trong các tác phẩm văn học. Ở các tác phẩm văn học, những triết lý nhân sinh có khi được thể hiện trực tiếp, có lúc lại được thể hiện gián tiếp. Vì vậy, để hiểu và chỉ ra được những triết lý ấy trong các tác phẩm văn học, đôi khi, không phải là việc dễ dàng. Trong tham luận này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu một vài khía cạnh nhân sinh trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn từ góc nhìn điển cố, với hy vọng rằng, trước hết, góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu nội dung, tư tưởng tác phẩm Chinh phụ ngâm; sau nữa là góp thêm một hướng tiếp cận về quan niệm nhân sinh của người Việt từ trong cách nhìn về cuộc sống của Đặng Trần Côn.

*     Thạc sĩ, Trường Đại học Thủ Dầu Một.

ĐOÀN LÊ GIANG(*)

 Bài thơ Xuân nhật tức sự 春日即事 là bài thơ hay, từng được Việt âm thi tập tuyển và đề tên tác giả là sư Huyền Quang (Quyển 3). Bài thơ cũng được giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII bình giảng rất thú vị khi nói về thơ Lý Đạo Tái (Huyền Quang)(1). Tuy nhiên trên Tạp chí văn học (số 1-1984), Lê Mạnh Thát với bài Về tác giả bài thơ Xuân nhật tức sự đã khẳng định tác giả bài thơ không phải là Huyền Quang Lý Đạo Tái mà là một thiền sư đời Tống (Trung Quốc) có tên là Ảo Đường Trung Nhân 拗堂中仁禪 và đã giới thiệu về Ảo Đường Trung Nhân cũng như nguồn gốc văn bản bài thơ trong Gia Thái phổ đăng lục 嘉泰普燈錄, Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元, Tục truyn đăng lục 続傳燈錄, dị bản trong Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 禪宗頌古聯珠通集 và một số tài liệu khác.

Lã Trọng Đại*

  1. Việt Nam là một đất nước có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Hiển nhiên, với một bề dày lịch sử như thế, chúng ta có cơ sở để tin tưởng vào sự phong phú và thâm sâu, bền chắc của các yếu tố văn hóa, cũng như những nét đặc thù trong căn tính của dân tộc này. Một trong những căn cứ xác đáng nhất để giúp ta có thể kiểm chứng được điều đó chính là ngôn ngữ, mà hẹp hơn và tin cậy hơn là chữ viết, với những cứ liệu thành văn được lưu giữ lại qua thời gian. Bởi lẽ, chữ viết là cầu nối tri thức và văn hóa giữa các thế hệ, các thời đại, phản ánh chân thực văn hóa và lịch sử của một dân tộc.

*     Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng.

TRẦN NHO THÌN

Truyện Kiều có một vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa và văn học của dân tộc ta. Một nhà văn ở đầu thế kỷ XX đã ví Truyện Kiều như tờ “trước bạ” ( giống như khái niệm “sổ đỏ” hiện nay) để hình dung vai trò của tác phẩm đối với việc xác định tư cách văn hóa của người Việt, chủ nhân chân chính của giang sơn gấm vóc. Nếu thiếu đi tác phẩm, chân dung văn hóa của dân tộc ta không thể trọn vẹn. Sức sống và sức hấp dẫn to lớn của kiệt tác đối với người Việt Nam đã khiến cho nhiều học giả nước ngoài quan tâm dịch thuật và nghiên cứu Truyện Kiều như một cách tiếp cận hiệu quả tâm lý, tính cách người Việt.

Hành trình Truyện kiều từ thế kỷ xix đến thế kỷ xxi

Đoàn Lê Giang(*)

Trong Thiền uyển tập anh (bản chữ Hán) có bài kệ Truy tặng Vạn Hạnh thiền sư của Lý Nhân Tông (1066 – 1128) như sau:

萬行融三際 

真符古讖機

鄉關名古法

柱錫鎮王畿