TS. Trần Trọng Dương Viện NC Hán Nôm

Việt Nam cũng như các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hoá Hán, đã sử dụng chữ Hán và tiếng Hán trong một thời gian rất dài. Ở Việt Nam, chữ Hán có mặt từ sớm, có thể kể từ những thế kỷ trước Công nguyên. Từ năm 939 trở về sau, khi Việt Nam giành được độc lập, chữ Hán vẫn được thịnh hành và khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội của người Việt.

Chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để nâng cao dân trí, thi cử, đào tạo nhân tài và phát triển văn hoá dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XX. Từ chất liệu chữ Hán, người Việt sáng tạo ra các loại chữ Nôm, và thứ văn tự này được sử dụng và phát triển trong đời sống văn hoá của các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Việt Nam trong thời kỳ phong kiến.

Chữ Nôm là khái niệm dùng để chỉ các loại văn tự khối vuông được xây dựng trên cơ sở chất liệu chữ Hán (các chất liệu gồm có: tự dạng, âm đọc, phương thức kết hợp, phương thức dùng chữ) để ghi lại một số ngôn ngữ của các dân tộc cư trú tại lãnh thổ Việt Nam. Văn tự khối vuông dùng để ghi ngôn ngữ của người Việt (Kinh) thì gọi là Chữ Nôm Việt; văn tự dùng để ghi lại tiếng Tày gọi là Chữ Nôm Tày, loại văn tự dùng để ghi lại tiếng Ngạn gọi là Chữ Nôm Ngạn, loại văn tự dùng để ghi lại tiếng Dao gọi là Chữ Nôm Dao. Tuy nhiên, bài viết này chỉ tiến hành nghiên cứu chữ Nôm Việt (gọi chung là chữ Nôm) ở các khía cạnh lịch sử, cấu trúc và vị trí của thứ văn tự này trong bối cảnh văn hóa- văn tự của khu vực Đông Á.

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á

 

 

 

Nguồn: https://sealinguist.files.wordpress.com/2015/09/tran-2015.pdf