John Balaban,
Đại học quốc gia Bắc Carolina, Raleigh

Hồ Xuân Hương sinh ra vào cuối triều Lê (1592-1788), một thời kì đầy những biến loạn xã hội và tai biến. Gần 900 năm đã trôi qua từ khi Ngô Quyền đánh đuổi người Tầu để lập lại nền độc lập cho Việt Nam, dẫu sao đi nữa, trật tự xã hội vẫn theo khuôn mẫu triều đình Trung Hoa và hệ thống quan lại của nó. Đến cuối thời Lê, trật tự xã hội theo Khổng Tử đã thoái hoá và bở vụn. Ở miền Bắc, phe cánh đầy uy quyền của chúa Trịnh đã khống chế vua Lê và triều đình thời đó tại Thăng Long, đồng thời chúa Trịnh tiến hành chiến tranh với nhà Nguyễn, vốn có triều đình tại phía Nam Huế và được hỗ trợ bởi vũ khí Bồ đào nha và quân Pháp do các nhà truyền giáo thuộc địa tuyển mộ.

Cuối cùng, sau vài thập kỉ hỗn loạn tàn bạo, vào năm 1771, ba anh em, được biết tới với cái tên Tây Sơn, bắt đầu cuộc nổi dậy nông dân đánh bại chúa Trịnh, vua Lê và nhà Nguyễn, chiếm lấy Thăng Long (Hà Nội), Huế và Sài Gòn, và xây dựng nên một triều đại ngắn ngủi của mình (1788-1802) rồi cũng sớm bị mất vào tay nhà Nguyễn.

Thời kì sụp đổ xã hội và điêu tàn chiến tranh này, có lẽ không đáng ngạc nhiên, lại cũng là điểm cao trong truyền thống lâu dài về thi ca của Việt Nam. Như Dante nói trong cuốn De vulgari eloquentia, "Các chủ đề chính của thơ ca là tình yêu, đức hạnh và chiến tranh." Tác phẩm thơ vĩ đại của thời kì này - Truyện Kiều nổi tiếng của Nguyễn Du -- đều tràn ngập với niềm khao khát cá nhân, với sự thông cảm cho "số mệnh bạc bẽo," và với việc tìm kiếm cái gì đó vĩnh hằng. Chiến tranh, đói khát và tham nhũng đã không đánh bại được các nhà thơ như Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, mà lại còn làm sâu sắc hơn công trình của họ.

Điều lập tức gây ngạc nhiên về văn phong của Hồ Xuân Hương là ở chỗ bà viết về tất cả -- hơn nữa, ở chỗ bà đã nhận được sự hoan nghênh liên tục và ngay lập tức. Sau hết, bà là một người phụ nữ làm thơ theo truyền thống Khổng Tử, đàn ông. Trong khi phụ nữ bao giờ cũng giữ vị trí cao trong xã hội Việt Nam --đôi khi thống lĩnh quân đội, thường thì làm cố vấn cho vua chúa, và bao giờ cũng tham dự vào việc quản lí tài sản -- vài người được tôn làm nhà thơ, có lẽ bởi vì một số người đã được dạy dỗ trong học hành văn chương nghiêm ngặt, điều thường được dạy cho các thanh niên để chuẩn bị cho các kì thi đình với mong ước kiếm được vị trí trong hệ thống quan lại vẫn cai trị tại Việt Nam từ năm 939 sau công nguyên cho mãi tới thế kỉ hai mươi (Khách thăm Hà Nội vẫn còn có thể thấy, trong sân của Văn Miếu, những con rùa đá to lớn cõng trên lưng mình tấm bia khắc tên của những tiến sĩ đã đỗ đạt trong các kì thi đình từ năm 1442 cho tới 1779. Kì thi cuối cùng là trong năm 1919.).

Điều cũng gây ngạc nhiên là những gì bà đã viết ra. Vào cuối triều Lê, khi địa vị xã hội của phụ nữ đã bị sút giảm hẳn, bà thường đặt câu hỏi về trật tự của mọi việc, nhất là quyền của đàn ông. Chế độ phong kiến hà khắc ở cuối thời Lê đã lấy cuốn Kinh Lễ của Khổng Tử làm sách hướng dẫn chính thống trong đó phụ nữ "khi chưa chồng thì theo cha, khi có chồng theo chồng, và khi goá chồng thì theo con trai." Đã có "bẩy lí do để từ bỏ vợ: 1, nếu cô ấy không có con, 2, nếu cô ấy ngoại tình, 3, nếu cô ấy không tôn kính bố mẹ chồng, 4, nếu cô ấy ngồi lê mách lẻo, 5, nếu cô ấy ăn cắp, 6, nếu cô ấy bị cho là ghen tuông, và 7, nếu cô ấy bị bệnh không thể chữa được.” Làm cho vấn đề còn tồi tệ hơn nữa, các qui tắc hồi môn và lễ cưới đã trở nên tốn kém và phức tạp đến mức vào thời Hồ Xuân Hương, ít phụ nữ thuộc tầng lớp bà lấy được chồng, phần lớn trở thành vợ lẽ (Theo Hoa Bằng, Hồ Xuân Hương, Nhà Thơ Cách Mạng, (Sài gòn: Nhà Xuất Bản Bốn Phương, 1953), trang 100 và 103.). Trong khi thơ của Hồ Xuân Hương công kích vào quyền lực của đàn ông, điều có thể dường như là khá thông thường vào cuối thế kỉ đó với người Mĩ và người phương Tây khác, thì với thời đại của bà điều đó gây chấn động và gây khiếm nhã cá nhân.

Bên cạnh đó, bà đã chọn viết bằng chữ Nôm— một hệ thống chữ viết biểu thị cho cách nói của người Việt Nam - thay vì dùng chữ Hán, ngôn ngữ của tầng lớp quan lại cao cấp. Việc chọn viết bằng chữ Nôm của bà, như Chaucer đã chọn viết bằng tiếng Anh và Dante chọn viết bằng tiếng Italia, đem lại cho thơ ca của bà một chiều hướng Việt Nam đặc biệt tràn ngập với cách ngôn và thói quen nói chuyện của thường dân (Giới học giả gần đây cũng đã tìm ra những bài thơ cô viết trong chữ Hán. Xem Đào Thái Tôn, Thơ Hồ Xuân Hương (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1996). Quả vậy, nhà thơ hiện đại Xuân Diệu đã gọi bà là "Bà chúa thơ Nôm."

Nhưng, cuối cùng, sự kiện đáng ngạc nhiên nhất là ở chỗ phần lớn hơn trong thơ bà - mỗi bài thơ lại là một kì công về thơ trữ tình theo kiểu Đường luật (luật thi) -- đều mang hai cách hiểu: mỗi bài thơ đều ẩn giấu trong nó một bài thơ khác với nghĩa sắc dục. Trong những bài thơ này chúng ta có thể được giới thiệu quang cảnh về ba mỏm đá, hay cái động đá vôi, hay cảnh dệt cửi hay đánh đu, hay các vật như cái quạt, quả cây, hay thậm chí con ốc nhồi -- nhưng ẩn dấu bên trong gần như tất cả thơ Đường luật tuyệt vời của bà là ý đồ sắc dục, điều tự lộ ra qua việc chơi chữ và mang hình tượng kép. Không nhà thơ nào khác dám làm việc này. Sắc dục, tất nhiên, là chủ đề bị cấm kị trong truyền thống văn học này. Như Hữu Ngọc và những người khác đã chỉ ra, đạo Khổng thậm chí xua đuổi sự khoả thân khỏi nghệ thuật Việt Nam (Hữu Ngọc và Françoise Corrèze, Hồ Xuân Hương, ou le voile déchiré (Hà Nội: Fleuve Rouge, 1984), p. 31.). Với thái độ gợi tình của mình, Hồ Xuân Hương quay sang cái sống động khôn ngoan thông thường trong các bài ca dao và tục ngữ, cái thái độ mà từ ngòi bút văn học của bà có thể được nói một cách chính xác là sự thách thức chứ không phải là bệnh tâm lí sắc dục, như một số người chỉ trích bà đã buộc tội.

Vậy là, vào lúc cái chết và sự huỷ diệt bày ra, khi mà thế lực cầm quyền mạnh mẽ và không được tôn kính bị trừng trị bởi lưỡi kiếm, thì làm sao nó thoát khỏi sự bất kính, sự khinh bỉ, và sự sỗ sàng thường lệ của nền thơ ca của nó? Câu trả lời nằm ở tài xuất chúng của bà như một nhà thơ và trong sự quí trọng văn hoá tột bực mà người Việt Nam bao giờ cũng đặt vào thơ ca, dù là trong truyền thống thanh cao của giới trí thức hay ca dao truyền miệng của thường dân. Rất giản dị, bà đã tồn tại bởi vì thông minh nhạy cảm trong thơ ca. Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ, bà đôi khi viết ra để đáp ứng cho sự ngạc nhiên tự nhiên. Chính sự tinh xảo riêng của bà trong việc sáng tác hai bài thơ một lúc, bài nọ ẩn dưới bài kia, đã lôi cuốn độc giả -- từ người bình dân, người vốn có thể nghe trong thơ của bà tiếng vọng của bài ca dao, tục ngữ của mình, và theo nghĩa làng xóm thông thường, cho tới các viên quan lại triều đình mang nặng Hán văn, người giễu cợt bà trong thơ ca, người đánh giá sự tinh xảo thơ ca của bà, và người đưa bà ra làm cái bảo vệ cho mình(Chẳng hạn như Chiêu Hổ, thích chòng ghẹo cô trong thơ ca, người mà một số học giả (nhưng không phải tất cả) xếp vào loại quan hạng cao như Phạm Đình Hổ.). Việc đùa giỡn bằng lời của bà, cái khôi hài tinh quái của bà, lối nói tự nhiên của bà, niềm khát khao tâm linh của bà, cơn đói tình yêu của bà, và sự giận dữ của bà đối với tệ tham nhũng phải đã là âm hưởng chính.

 

Cuộc đời và truyền thuyết


 

Không còn mấy điều được biết một cách đúng như thật về cuộc đời bà. Những tài liệu thực tế giống như những tài liệu được lưu giữ ở phương Tây vào thời của Shakespeare gần đây mới có ở Việt Nam. Phần lớn tiểu sử của bà đều được suy ra từ thơ ca của bà. Quả thực, cứ cho là thiếu những sự kiện rõ ràng và có những điều thường không đúng về thơ bà, một số độc giả đã biện minh rằng bà chưa bao giờ tồn tại mà chỉ là sự sáng tạo hư cấu của các nho sĩ nào đó, một loại biện luận kiểu Earl of Oxford (kiểu biện luận mà một số học giả cho rằng nhà thơ và nhà viết kịch Edward de Vere thế kỉ 17 (1550-1604) mới là tác giả thực của các vở kịch của Shakespeare. Phần lớn những người nghiên cứu Shakespeare đều không coi đây là điều nghiêm chỉnh.) Nhưng quá nhiều bằng chứng tiểu sử dầy đặc nổi lên từ những bài thơ đó để chứng tỏ điều này là không đúng, cùng với cách nhìn quen thuộc của bà vào mọi thứ và cả loạt những cách chọn từ duy nhất.

Các học giả nói chung đồng ý bà xuất thân từ gia đình họ Hồ tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ở giữa miền bắc Việt Nam(Về thảo luận đầy đủ xin xem Hoàng Xuân Hãn, “Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long,” trong cuốn La Sơn Yên Hồ của ông Tập III (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1998), trang 897 và 930.). Họ bất đồng về bố của bà, là nhà nho Hồ Sĩ Danh (1706-1783) hay Hồ Phi Diễn (1703-1786). Mẹ bà, có tên là Hà, là vợ lẽ, tức là vợ thứ hai, hay hầu thiếp, mặc dầu là hầu thiếp đẳng cấp cao. Hồ Xuân Hương có lẽ được sinh ra vào khoảng giữa 1775 và 1780, hoặc ở làng Quỳnh Lưu hoặc làng Khán Xuân, bà được chôn theo bây giờ ở quãng vùng đang phát triển nhà mới ở khu ngoại ô gần Hồ Tây của Hà Nội ngày nay.

Bà hình như đã được dạy dỗ về văn học cổ điển. Tên của bà, mà có thể có nguồn gốc từ cái làng bà đã lớn lên, có nghĩa là “Hương mùa Xuân”. Giữa năm 1815 và 1818, bà dường như đã nhiều lần tới vãng cảnh Vịnh Hạ Long. Năm 1819, theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi thuộc Viện Văn học ở Hà Nội, có một tài liệu chính thức nói tới “hầu thiếp Hồ Xuân Hương,” trong khi một bản thảo khác (“Xuân đường đàm thoại,” 1974) nói tới cuộc trò chuyện vào năm 1869 giữa các nho sĩ tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó một trong số họ, tới muộn, nói ông ta “vừa mới tới từ đám tang của Hồ Xuân Hương.” Quả thực, tài liệu tham khảo năm 1819 nói tới Hồ Xuân Hương, đã được ghi trong Hoàng Xuân Hãn (tr. 869), là một phần của bản ghi về việc hành hình chồng bà do ăn hối lộ. Chồng bà, Trần Phúc Hiển, tri phủ Yên Quảng, đã bị hành hình theo lệnh nhà vua. Bản ghi viết "(Kỳ tiểu thiếp XUÂN HƯƠNG năng văn, chính sự. THỜI XƯNG tài nữ. THAM HIỆP thường sử can dự ngoại sự. THỦ DUNG tố kỵ chi.)" (Hoàng Xuân Hãn, tr. 868 – chữ viết hoa là của Hoàng Xuân Hãn)." (Ghi trong ngoặc cũng của Hoàng Xuân Hãn) "Vợ bé ông tên là XUÂN HƯƠNG, giỏi về văn chương và chính trị; bấy giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham Hiệp thường sai Nàng dự vào việc quan. Viên án thủ Dung vốn sợ ghét Nàng..." (HXH, p. 869).

Nhưng có lẽ bà đã chết vào đầu những năm 1820. Vào năm 1842, chúng ta có bài thơ đáng chú ý của em vua Thiệu Trị trong cuộc viếng thăm hoàng gia tới Hà Nội.

Bản Hán Việt Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn
Tịnh đầu liên hoa khai mãn trì
Hoa nô chiết khứ cung thần bì
Thảo hướng Xuân Hương lăng thượng quá
Tuyền đài hữu hận thác xuất ti,
Truỵ phấn, tàn chi thổ nhất oánh
Xuân Hương quy khứ thảo thanh thanh
U hồn biệt để kim như tuý
Cơ độ xuân phong suý bất tình.
Đầu hồ rực rỡ hoa sen,
Sai người xuống hái để lên cúng dàng.
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương,
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng.
Son tàn, phấn rữa, mồ hoang,
Xuân Hương đã khuất, bên đàng cỏ xanh.
U hồn say tít làm thinh,
Gió xuân mấy độ thổi tình không hay.

Dù các sự kiện của đời bà là bất kì cái gì, một truyền thuyết về ý nghĩa và sự nhất quán văn hoá giầu có đã nổi lên. Truyền thuyết nói rằng cái chết sớm của bố bà đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới gia đình, làm chấm dứt việc học hành của Hồ Xuân Hương và giới hạn cơ hội hôn nhân của bà. Truyền thuyết nói rằng đôi khi bà có mở hiệu trà ở Thăng-Long, tên xưa của Hà Nội. Nổi tiếng về khả năng của mình trong việc ứng khẩu thơ Đường luật, bà thường hay bị các chàng sĩ tử đi thi đình thách đố. Một hôm một chàng sĩ tử và em mình tới cửa hàng của bà và bảo người hầu gái của Hồ Xuân Hương đi mời bà ra. Thay vì đi ra, Hồ Xuân Hương lại gửi ra vài câu thơ để yêu cầu viết thêm cho hoàn chỉnh, nhưng bài thơ lại khó đến mức khi đọc xong, chàng sĩ tử kia choáng váng ngất xỉu. Đây là điều nhục nhã tiềm tàng cho gia đình, nên người em ném anh mình xuống nước rồi lại vớt lên, và rồi thì chàng ta cũng hoàn tất bài thơ và người hầu gái đưa lại cho Hồ Xuân Hương, vẫn ở phía sau quán trà. “Cũng được đấy,” người ta đồn bà nói vậy, và cưới chàng ta, ông phủ Vĩnh Tường tương lai. Cuộc hôn nhân này, nếu người ta chấp nhận những tình cảm đó trong bài “Khóc ông phủ Vĩnh Tường,” là một tình cảm thực, nhưng chỉ kéo dài hai mươi bẩy tháng. Cuộc hôn nhân thứ hai là với một viên quan, người mà bà chế nhạo là “ông Cóc” trong bài điếu văn của mình “Khóc ông Tổng Cóc.” Giống như mẹ mình, Hồ Xuân Hương là vợ lẽ, hay hầu thiếp, một hoàn cảnh mà bà rất phẫn nộ.

Truyền thuyết cứ thế tiếp tục. Các học giả như Hoàng Xuân Hãn về sau gợi ý rằng, với bằng chứng về niên đại học, thì bà không thể thực tế là vợ ông phủ Vĩnh Tường được, hay đấy là người đàn bà khác, nhưng bà đã nói lên tiếng nói của họ. Những người khác, như Đào Thái Tôn, gợi ý rằng nhiều bài thơ được coi là của bà thì đã do những người khác viết ra, những người đơn giản không dám gắn tên mình vào chúng. Theo cách nhìn này, từ việc thừa nhận ban đầu về bà, Hồ Xuân Hương đã nêu một tiếng nói duy nhất cho những vấn đề vốn bị cấm ngặt phổ biến trong bàn bạc đạo Khổng.

Dù sự kiện của cuộc đời bà có là gì đi chăng nữa, trong hết bài thơ nọ tới bài thơ kia chúng ta đều nghe thấy việc bà phàn nàn về hôn nhân. Bà có quá tân tiến không, bà tự hỏi trong một bài thơ, có quá trơ trẽn lấy chồng không? Điều bà tìm kiếm, và rõ ràng chẳng tìm thấy, là một cuộc hôn nhân bình đẳng, điều bao hàm cái gì đó hoàn toàn phi thường và phổ biến trong tâm trí người Việt Nam: duyên. Duyên là khái niệm lãng mạn mà người phương Tây gọi là "tình yêu thực sự." Duyên là "tình yêu định mệnh," là mối ràng buộc được tạo ra trên trời mạnh đến mức hai người yêu nhau mà “có” duyên thì có thể trải qua nhiều kiếp hoá thân liên tiếp chừng nào mà họ còn chưa được gắn bó với nhau không tách rời. Không có được điều này, Hồ Xuân Hương phải giải quyết chỗ cư ngụ và dục, nhưng ngay cả điều sau này cũng không tin cậy được, nếu người ta lấy tình cảm tiểu sử từ bài “Lấy chồng chung.”

Hồ Xuân Hương cũng viết một cách gượng ép về từ bi, đặc biệt theo nghĩa Phật giáo về tình yêu cá nhân và sự hi sinh cho người khác. Giống như phần lớn người Việt Nam, bà chắc là một Phật tử Đại thừa theo A di đà, môn phái mà hình ảnh chính là Phật Tây phương an bình, người ta có thể đi tới đó bằng việc hoàn thiện bản thân mình trong cuộc đời để cho khi chết người ta có thể sống ở Tây phương cực lạc, vẫn được hình dung là cõi giới tâm linh đâu đó bên “phương Tây” theo hướng của Ấn Độ, nơi mà Phật giáo ngụ đầu tiên. Cứ cho là bà không may trong hôn nhân và bà chán ghét cái cảnh “vợ hai”, thì việc đi vào tu hành Phật giáo có thể đã cho bà cả chỗ trú ngụ lẫn sự thực hiện tâm linh. Thay vì vậy, bà lại thấy sự thối nát của các thể chế tôn giáo vào thời mình và bà ném ra những lời nói kháy tinh quái nhất vào giới tăng lữ suy đồi, lười biếng và dễ bị hối lộ. Tại chùa Trấn Quốc, bà “đau đớn” nghĩ tới những anh hùng trong quá khứ của Việt Nam và thấy các sư chỉ như “lũ cạo đầu,” quên đi “món nợ tình” của họ. Tại chùa Quán Sứ, "Chùa các Sứ thần,” bà tới thiền nhưng thấy chỗ ấy vắng teo. Bỏ qua tôn giáo thể chế hoá, nhưng vẫn giữ lấy giới luật Phật giáo, bà đi lang thang vào các vùng quê để tìm chốn đơn độc gợi hứng cho một số bài thơ đầy vẻ trữ tình tâm linh và để lộ lòng từ bi(“Cô ấy đã du hành như một người đàn ông trong một xã hội mà phụ nữ là người ẩn dật,” Hữu Ngọc và Franỗoise Corrốze viết. Vào tháng hai năm 1999, lần theo một số đường du hành của cô, tôi đã ngạc nhiên về khoảng cách và vùng đất gồ ghề mà cô đã gặp phải). "Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ," bà nói trong “Cảnh Thu.” Đâu đó khác, bà tuyên bố rằng cực lạc “là đây, chín rõ mười," và đôi khi chúng ta có thể thấy “Một vũng tang thương nước lộn trời."

Đài Khán Xuân
Êm ái chiều xuân tới Khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời,
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.

 

Thơ Ca

Trong khi dịch theo nghĩa đen, “đài Khán Xuân” đọc như sau:

Đài Khán Xuân

Êm ái chiều xuân tới Khán đài,
peaceful evening spring go pavilion

Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
light light not dirty little world dust

Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
three times watch bell tolls waves

Một vũng tang thương nước lộn trời,
one puddle mourning water turned over heaven

Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,

sea love 1,000 immense cannot splash out shallow

Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Source love 10,000 spans easy all over.

Nào nào cực lạc là đâu tá?
where nirvana is where us?

Cực lạc là đây chín rõ mười.
Nirvana is here, nine out of ten.

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm thuộc vào hệ Môn-Khmer. (Các dấu quanh nguyên âm chỉ ra “độ cao thấp” của từ, hay thanh. Không có dấu thanh, người đọc Việt Nam thấy văn bản khó đọc được.) Thanh của từ làm cho thơ thành nhạc điệu phức tạp và cách nói ám chỉ, cũng như tính mở của ngôn ngữ đối với thói quen thơ ca từ tiếng Trung Quốc, một ngôn ngữ tương tự về cấu trúc. Với người phương Tây có lẽ đặc tính đáng để ý nhất của tiếng Việt và thơ ca của nó chỉ là khía cạnh thanh của từ.

Trong tiếng Việt, có sáu thanh tựa âm nhạc hay độ cao thấp. Mọi âm tiết trong ngôn ngữ này đều mang một trong những thanh đó, mỗi thanh lại tạo nên ý nghĩa cho âm tiết đó. (Phần lớn các từ trong tiếng Việt đều là đơn âm.) Chẳng hạn, hình thái /la/ có thể mang sáu nghĩa phân biệt tuỳ theo thanh được dùng:

la: quát tháo (thanh bình cao)
là: là (thanh bình thấp)
lả: mệt mỏi (thanh hồi--xuống-lên)
lã: vô vị (thanh khứ--cao-nghẹt, tắc)
lá: lá cây (thanh thượng--cao-lên)
lạ: kì lạ (thanh hạ--thấp-nghẹt)
Trong văn nói hay văn xuôi, các thanh này rơi ngẫu nhiên; trong thơ ca—dù là trong ca dao hay trong truyền thống văn học cao cấp – thanh được qui định rơi vào chỗ cuối nào đó gần chỗ ngắt dòng. Vần điệu thông thường chỉ rơi vào những từ có thanh “bằng” (la và là, ở trên). Tất cả các thanh khác đều được coi là thanh “trắc” và vị trí của chúng cũng được qui định.

Với nhạc điệu cao thấp kế thừa trong mọi bài thơ, toàn bộ sự linh động của âm thanh –không có trong tiếng Anh--đi vào vận hành. Và vì các từ tựa âm thanh có thể mang nghĩa rất nhiều điều khác nhau, nên toàn bộ thế giới mang nghĩa kép trở thành có thể trong mọi bài thơ. Những ý nghĩa thứ hai này, và việc đảo ngược cụm từ, hay nói lái, thì thường là tục. Chẳng hạn lấy thí dụ, các bài "Sư hoang dâm" và "Vịnh ni sư." Trong bài trước, đeo có nghĩa "mang" hay "vác," nhưng việc tráo thanh của nó, đéo, có nghĩa "giao hợp." Trong cùng bài thơ này, lộn lèo có nghĩa là "lộn vòng," "bị lẫn lộn," thậm chí "lắp ráp xoắn xuýt," nhưng lẹo lồn, với thanh khác đi, có nghĩa "giao hợp." (Thực tế nó còn hình ảnh hơn.) Tương tự, trong "Vịnh ni sư," xuất thế có nghĩa "từ bỏ thế giới này," một tình cảm đúng, nhưng xuất thê có nghĩa "bỏ vợ." Trong một số bài thơ như "Khóc chồng làm thuốc," loại chơi thanh và tráo thanh thường là chính tâm điểm của bài thơ, làm cho việc dịch thành gần như không thể được. Trong thực tế, một trong nhiều nguy hiểm cho người dịch Hồ Xuân Hương là hướng bất kì bài thơ nào đi quá xa về một cực của nghĩa – về một mặt, cái nhìn của bà là hồn nhiên hiếm thấy; mặt khác, ý nghĩa tục tĩu phụ phải chưa bao giờ thành hiển nhiên.

Phần che đậy của Hồ Xuân Hương cho sự lẩn tránh này nằm ở khuôn phép hàng nghìn năm của bản thân thể thơ Đường luật, tức là nằm trong hàng trăm nghìn bài thơ do tầng lớp nho sĩ Việt Nam và Trung Quốc viết ra từ khi thể thơ này được vay mượn từ truyền thống cổ điển Trung Quốc. (Cả việc vay mượn và uy thế gắn với thể thơ này đều tương tự như việc vay mượn và sử dụng về sau của tiếng Anh cho thể thơ xonê (thơ trữ tình 14 câu) của Italia.) Trong thực tế, thơ Đường luật là tương tự trong nhiệm vụ và thẩm quyền văn hoá với thể thơ xonê tiếng Anh. Nhưng thơ Đường luật còn cô đọng hơn(Các độc giả muốn biết thêm về Đường luật nên tra cứu James J.Y. Liu, The Art of Chinese Poetry (University of Chicago, 1962), vì thơ Việt Nam tuân theo Đường luật.): Mọi bài thơ đều phải có tám câu, mỗi câu có bẩy âm tiết. Vần điệu thường xuất hiện ở cuối các câu thứ nhất, thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ tám. Bốn câu bên trong thường chỉ ra cái loại cấu trúc cú pháp song song nào đó. Các từ vần phải là từ bình, hay thanh "bằng." Các thanh trắc và bằng được qui định tại những chỗ chúng rơi vào câu thơ ca. Biến thể của thơ Đường luật, thể bán Đường luật "tứ tuyệt" về bản chất vẫn là Đường luật bị cắt đi một nửa. Dù các qui tắc làm thơ này dường như làm nản lòng người ta, Hồ Xuân Hương thường vượt quá chúng, thường ném ra nhiều vần hơn yêu cầu và đôi khi lại tạo ra những tiểu văn bản với kết cấu kiểu đảo chữ cái nếu các từ được đọc lên và xuống cũng như đọc từ trái qua phải, như trong thí dụ "Đài Khán Xuân" ở trên, chỗ mà thanh biến “cát bụi” thành “tình yêu,” bụi trần gian thành lòng từ bi của Phật tử.

Văn bản

 

Hồ Xuân Hương viết trong chữ Nôm, một hệ thống chữ viết do giới nho sĩ Việt Nam phát minh ra để biểu thị cho hệ thống âm thanh ngôn ngữ mình qua cách viết chữ đẹp “phương nam”, nguyên bản. Từ khoảng thế kỉ thứ 10 vào cho tới thế kỉ 20, chữ viết này là kho tàng trữ các tác phẩm văn học, chính trị, triết học cũng như tôn giáo và các cách thức chữa trị y học. Trong hai mươi bốn năm các vua Tây Sơn mà Hồ Xuân Hương đã sống qua, chữ Nôm, thay vì chữ Hán, đã trở thành ngôn ngữ chính thức của triều đình(Quả thực, có một số bằng chứng rằng cô là chị em họ với vua Nguyễn Huệ và thuộc hàng họ hàng tương đương; Hoàng Xuân Hãn). Nhưng chữ Nôm, trong khi quả thực là ngôn ngữ của nhân dân, dẫu sao đi chăng nữa việc làm chủ nó cũng khó gấp đôi chữ Hán, vì chữ Nôm thường lấy chữ Hán rồi gắn thêm vào chúng phần ngữ âm tiếng Việt, do vậy làm tăng gấp đôi tổng số kí tự cho bất kì cách diễn đạt nào. Ngày nay, trong số 86 triệu người Việt Nam, có lẽ chỉ còn vài chục người có thể đọc được gia sản thừa kế 1000 năm này trong chữ Nôm, mặc cho sự kiện là nó gần như bao giờ cũng hiển hiện trước mắt mọi người –khắc trên những lối cổng, in trong lịch năm các nhà hàng, và khắc trong mồ mả gia tiên vẫn còn đó trên các cánh đồng lúa. Dẫu sao đi chăng nữa, chữ Nôm đã chết đi cùng với triều đình hoàng gia và tầng lớp nho sĩ, nhường đường cho chữ quốc-ngữ, "chữ quốc gia," do Alexandre de Rhodes đưa vào hồi thế kỉ thứ 17 và dùng bảng chữ Latin, dễ học hơn nhiều so với chữ Nôm và làm cho quảng đại quần chúng người Việt dễ đọc và viết.

Không còn văn bản học thuật, xác định về thơ của Hồ Xuân Hương. Quả vậy, thơ của bà đã không được in ra mãi nhiều thập kỉ sau cái chết của bà với lần xuất bản khắc gỗ chữ Nôm vào năm 1909, tiếp theo đó vào năm 1914 qua lần biên tập khắc gỗ Quốc âm Thi Tuyển trong chữ Nôm với việc phiên chuyển quốc-ngữ trực tiếp phía dưới. Các học giả vẫn còn bất đồng về chính số lượng bài thơ mà có thể cho là của bà, một số người giới hạn quãng 25 bài, số khác lại nói là 148 bài. Nhiều tài liệu gốc sau đây có nhiều biến thể bởi vì chữ Nôm chưa bao giờ thực sự được chuẩn hoá. Điều còn hơn nữa, là các bài thơ của Hồ Xuân Hương đã được sao chép bằng tay, lại được thêm những biến thể văn bản mới. Việc làm phức tạp văn bản còn thêm nữa, vì thời bản viết của bà là theo cách phát âm miền bắc, bản thân tiếng Việt đã trải qua sự dịch chuyển về âm thanh và nghĩa. Tôi đã cố gắng tìm ra những phiên bản đáng tin cậy nhất, thường dựa vào cuốn cuối của Maurice Durand's L'Oeuvre de la poétesse vietnamienne Hồ Xuân Hương(Paris: Adrien-Maisonneuve, 1968, từ Tuyển tập văn bản và tư liệu về Đông Dương, Textes Nụm No.2.), một công trình lớn không may còn lại không đầy đủ vào lúc mất của Durand.

Vào tháng hai 1999 tôi đã tới Hà Nội bàn bạc và thảo luận với các học giả để tìm ra và xác minh nguyên bản chữ Nôm của những bài thơ sau đây. Nhờ có sự giúp đỡ của Giáo sư Đào Thái Tôn và Nguyễn Quang Hồng tại Viện Hán-Nôm, và công trình xuất sắc của Ngô Thanh Nhàn, nhà ngôn ngữ học tính toán tại Courant Institute of Mathematical Sciences của đại học New York University, đây là lần đầu tiên mà chữ Nôm được in ra với kiểu in hiện đại, một bước chủ chốt đầu tiên hướng tới việc tìm lại gia sản văn học Việt Nam trong chữ Nôm.

Cuốn sách này, một tuyển tập khá lớn đầu tiên về thơ của Hồ Xuân Hương, gần như chắc chắn còn chứa những sai sót không thể tránh khỏi về nguồn gốc lai lịch cũng như các sai sót thuần tuý do tôi phạm phải, như một người ngoại quốc, mặc dầu là nhà thơ, đang bơi trong dòng nước quá đầu mình dù được sự khuyến khích của tiếng reo hò của những người Việt Nam đứng trên bờ xa. 48 bài thơ trong cuốn sách này đại diện cho phần lớn thơ hiện còn của Hồ Xuân Hương. Một số bài thơ khác không được đưa vào đây bởi vì chúng dường như lặp lại, hay gần như chắc chắn là những bài thơ của các nhà thơ khác (như Bà Huyện Thanh-Quan, một người phụ nữ có thơ đôi khi cũng được gán cho Hồ Xuân Hương), hay bởi vì chúng dường như không thể phục hồi được trong tiếng Anh, cho dù có chú thích hỗ trợ.

Trong mười năm tôi đã gọt rũa những bản dịch này, thường phải bỏ dở nửa chừng, nhưng bao giờ cũng quay lại. Sự kiên nhẫn của tôi được nâng đỡ bởi lòng ngưỡng mộ và kính phục, điều tôi hi vọng độc giả sẽ kinh nghiệm thấy: về sự đơn độc, cuộc sống thông minh của Hồ Xuân Hương, về thơ ca tinh tế của bà, về tính bướng bỉnh của bà, những lời châm biếm của bà, sự bạo dạn của bà, cái hài hước bất kính của bà, và tấm lòng từ bi bồ tát của bà. Bà là nhà thơ tầm thế giới, người có thể làm chúng ta ngày nay xúc động như bà đã làm xúc động người Việt Nam trong 200 năm.