Đoàn Lê Giang(*)

Trong Thiền uyển tập anh (bản chữ Hán) có bài kệ Truy tặng Vạn Hạnh thiền sư của Lý Nhân Tông (1066 – 1128) như sau:

萬行融三際 

真符古讖機

鄉關名古法

柱錫鎮王畿

Phiên âm Hán Việt:

Vạn Hạnh dung tam tế,

Chân phù cổ sấm cơ.

Hương quan danh Cổ Pháp,

Trụ tích trấn vương kỳ.

          Xem bản chụp in kèm.

Bản dịch nghĩa của Thơ văn Lý Trần:

          Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh(1)

Vạn Hạnh học rộng thông suốt được ba cõi(2),

Lời nói của sư quả thực hợp với những câu thơ sấm cổ(3).

Quê hương là làng Cổ Pháp;

Chống gậy tầm xích trấn vững kinh kỳ.

Bản dịch thơ của Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình:

Vạn Hạnh thông ba cõi;

Thật hợp lời sấm thi.

Quê hương làng Cổ Pháp

Chống gậy trấn kinh kỳ.

Chú thích của Thơ văn Lý Trần:

  • Vạn Hạnh tức Nguyễn Vạn Hạnh. Xem tiểu sử, tr.214.
  • Ba cõi (tam tế): Trời, đất, người.
  • Cả câu này có ý khen những lời tiên đoán của Vạn Hạnh về việc nhà Lý ra đời, cũng ứng nghiệm như những bài thơ sấm xuất hiện thời gian đó (...).

[Viện Văn học, 1977, tr.432-433]

Bài thơ này có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp thơ ca của vua Lý Nhân Tông, cũng như trong việc đánh giá thiền sư Vạn Hạnh và Phật giáo Lý Trần, vì vậy rất cần có một sự hiểu biết chính xác. Cách hiểu, cách dịch bài thơ này trong Thơ văn Lý Trần có một số chỗ cần xem xét lại.

1) Từ “Tam tế” 三際

Thơ văn Lý Trần dịch Tam tế 三際thành “Ba cõi” và chú  là Trời, đất, người, tôi e không chính xác. Tiểu sử sư Vạn Hạnh nói ông giỏi đoán vận mệnh, thời cơ tức là hiểu rõ quá khứ, hiện tại và tương lai, chứ không nghe nói ông giỏi chuyện trên trời, dưới đất, cõi người. Hơn nữa Trời, Đất, Người xưa nay vẫn gọi là “Tam tài”. Tra từ điển Phật học thì thấy giải thích: “Tam tế 三際 thức Tam thế 三世. Ba đời: đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai” [Đoàn Trung Còn, 1997, tr.21]. Tra kinh Phật trên mạng thì thấy Tam thế là quá khứ, hiện tại, tương lai được nói đến trong kinh Hoa nghiêm [7]

2) Sấm thi 讖詩hay Sấm cơ (Sấm ky) 讖機?

Thơ văn Lý Trần dùng bản Hoàng Việt thi tuyển ghi là “Sấm thi” 讖詩 [Bùi Huy Bích, 2007, tr.16], trong khi đó Thiền uyển tập anh, Toàn Việt thi lục thì ghi là Sấm cơ (cũng đọc Sấm ky) 讖機, từ nào chính xác hơn? Đúng là sư Vạn Hạnh có làm mấy bài sấm thi, nhưng không chỉ có thơ, ông cũng có lời tiên đoán về tình thế chính trị thời Tiền Lê, Lý. Ví dụ như khi quân Tống sai Hầu Nhân Bảo dẫn quân đến xâm lược nước ta, vua Lê Đại Hành mời sư Vạn Hạnh đến hỏi tình thế thế nào, Sư đáp: “Chỉ trong ba bảy ngày giặc tất phải lui”, sau quả đúng như thế. Hay khi ông gặp Lý Công Uẩn lúc nhỏ đi học ở chùa Lục Tổ, ông đã tiên đoán: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ” [Đại Việt sử ký toàn thư, Thái Tổ hoàng đế]. Những lời tiên tri như thế gọi là “Sấm ngữ”. Vì thế theo tôi từ “Sấm cơ” bao quát hơn cả, “sấm cơ” là then chốt của sấm thi, sấm ngữ.

3)Hương quan danh Cổ Pháp” 鄉關名古法

Câu này các sách đều dịch khá đơn giản là: “Quê hương là làng Cổ Pháp” [Thơ văn Lý Trần, đã dẫn], “Quê hương làng Cổ Pháp” [Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, đã dẫn ở trên], “Quê hương Cổ Pháp bây giờ” [Nguyễn Lang, 2000, tr.144), “Quê hương tên Cổ Pháp” [Lê Mạnh Thát, 1999, tr.540]. Tôi thắc mắc: không lý một bài ngũ ngôn tuyệt cú có 4 dòng 20 từ mà tác giả lại dùng một câu chỉ để thông báo tiểu sử một cách đơn giản. Quê Vạn Hạnh ở làng Cổ Pháp ai cũng biết (hiện nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Vậy vua Lý Nhân Tông “truy tán” nhắc đến làm gì? Theo tôi với ý “tán tụng” thì câu này phải hiểu là: Quê hương ông nổi danh là nơi phát tích Phật pháp cổ. Như vậy chữ “Cổ Pháp” này dùng theo dạng chơi chữ, nếu theo chính tả ngày nay thì phải vừa viết hoa  vừa viết thường: “Hương quan danh Cổ Pháp”/ “Hương quan danh cổ pháp”. Làng Cổ Pháp có tên từ thế kỷ VIII-IX, gắn liền với tên tuổi Định Không (? – 808), thiền sư thế hệ thứ tư thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Sư Định Không là người đã xây chùa Quỳnh Lâm tại quê hương và cũng là người đổi tên làng là Cổ Pháp. Sách Thiền uyển tập anh viết:

“Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785 – 805) sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa thợ làm móng đào được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất (thổ) mới nằm im. Sư giải rằng: “Thập khẩu 十口là chữ Cổ古, Thủy khứ 水去(xuống sông) là chữ Pháp法. Còn “Thổ” (đất) 土là chỉ vào hương ta. Nhân đó đổi tên là hương Cổ Pháp 古法 (trước kia là hương Diên Uẩn). Sư có làm bài tụng như sau:

                   Địa trình pháp khí,

                   Nhất phẩm trinh đồng.

                   Trí Phật Pháp chi long hưng,

                   Lập hương danh chi Cổ Pháp.

                             [Ngô Đức Thọ dịch, 1990, tr.174-175]

          Lê Mạnh Thát dịch:

                   Đất trình pháp khí,

                   Một món đồng ròng.

                   Để Phật Pháp được hưng long,

                   Đặt tên là làng Cổ Pháp”

                             [Lê Mạnh Thát, 1999, tr.252]

Hơn 150 năm sau ở làng Cổ Pháp, thiền sư Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn ra đời.

4) “Quải tích” 挂錫hay “Trụ tích” 拄錫, “Trụ tích” 柱錫 (trấn vương kỳ)?

          Câu thứ tư của bài thơ:

  • Hoàng Việt thi tuyển ghi là “Quải tích trấn vương kỳ” 挂錫鎮王畿,
  • Thơ văn Lý Trần chép là “Trụ tích trấn vương kỳ” 拄錫鎮王畿
  • Thiền uyển tập anh ghi là “Trụ tích trấn vương kỳ” 柱錫鎮王畿,

câu nào hợp lý hơn?

Quải 挂 (dùng như 掛) là treo, quẩy. Trụ 拄là chống gậy, Trụ 柱là trụ cột.

Tôi cho rằng: quẩy cây gậy để trấn giữ đất vua, đất nước nghe không hợp lý, vì quẩy gậy trên vai khó làm được việc ấy.

Trụ tích 拄錫: chống gậy để trấn giữ đất vua (đất vua cũng là đất nước) nghe hợp lý. Tuy nhiên trong bản gốc lại dùng chữ Trụ 柱là trụ cột. Người xưa vẫn hay dùng chữ này trong cách nói khá quen thuộc là “Trụ thạch” 柱石: cột đá chống giữ hay làm trụ cột cho triều đình. Vậy “Trụ tích trấn vương kỳ” 柱錫鎮王畿 lại có nghĩa rất hay: Sư là cây tích trượng làm trụ cột trấn giữ cho đất vua, đất nước.

          Như vậy có thể dịch lại bài thơ như sau:

追贊萬行禪師

萬行融三際 

真符古讖機

鄉關名古法

柱錫鎮王畿

Phiên âm:

Truy tán Vạn Hạnh thiền sư

Vạn Hạnh dung tam tế,

Chân phù cổ sấm cơ.

Hương quan danh Cổ Pháp,

Trụ tích trấn vương kỳ.

          Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh

Vạn Hạnh thấu suốt cả quá khứ, hiện tại, tương lai, 

Những câu sấm trước đây của Sư quả là phù hợp

Quê hương của Sư nổi danh là nơi phát tích Phật pháp cổ/ Quê hương của Sư là làng Cổ Pháp;

Sư là cây tích trượng làm trụ cột trấn giữ cho đất vua, đất nước. 

Tạm dịch thơ như sau:

Vạn Hạnh thông sau trước;

Lời ông nghiệm sấm xưa.

Quê hương Phật pháp cổ,

Tích trượng trấn đất vua.

          Bài thơ của Lý Nhân Tông thể hiện niềm kính phục, biết ơn Thiền  sư Vạn Hạnh, một nhà sư có trí tuệ sáng suốt, bản lĩnh vững vàng và đức độ cao vời, có công lớn trong buổi đầu dựng lên triều đại nhà Lý hùng mạnh, thịnh trị, lâu dài. Thiền sư xứng đáng là người con của vùng đất phát tích Phật giáo xưa. Ông đã mở ra một truyền thống lớn của Phật giáo nhập thế thời Lý Trần – Phật giáo thống nhất giữa hộ pháp, hộ quốc và hộ vương – vừa hoằng pháp, vừa giúp nước, vừa giúp vua.   

Tháng 6 năm 2018

Chú thích

[1] Bùi Huy Bích (2007), Hoàng Việt thi tuyển, NXB. Văn học tái bản

[2] Đoàn Trung Còn (1997), Phật học từ điển, Quyển 3, NXB. TP.HCM

[3] Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB. Văn học tái bản

[4] Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, NXB. TP.HCM

[5] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga dịch (1990), Thiền uyển tập anh, NXB. Văn học

[6] Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý Trần, Quyển 1, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội

[7]https://books.google.com.vn/books?id=l2jBCQAAQBAJ&pg=PT28&lpg=PT28&dq=生滅剎那無閒進為三際為過去現在未來此三際各有過去現在未來

(Nguồn: Kỷ yếu HTKH “Phật giáo và văn học Bình Định” do Trường ĐH KHXH&NV  và Giáo hội Phật giáo VN tỉnh Bình Định tổ chức tháng 8/2018. NXB.KHXH, 2018, tr.514-520)

Bài “Vạn Hạnh dung tam tế” trong Thiền uyển tập anh

 

* PGS.TS., Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM