ĐOÀN LÊ GIANG(*)

 Bài thơ Xuân nhật tức sự 春日即事 là bài thơ hay, từng được Việt âm thi tập tuyển và đề tên tác giả là sư Huyền Quang (Quyển 3). Bài thơ cũng được giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII bình giảng rất thú vị khi nói về thơ Lý Đạo Tái (Huyền Quang)(1). Tuy nhiên trên Tạp chí văn học (số 1-1984), Lê Mạnh Thát với bài Về tác giả bài thơ Xuân nhật tức sự đã khẳng định tác giả bài thơ không phải là Huyền Quang Lý Đạo Tái mà là một thiền sư đời Tống (Trung Quốc) có tên là Ảo Đường Trung Nhân 拗堂中仁禪 và đã giới thiệu về Ảo Đường Trung Nhân cũng như nguồn gốc văn bản bài thơ trong Gia Thái phổ đăng lục 嘉泰普燈錄, Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元, Tục truyn đăng lục 続傳燈錄, dị bản trong Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 禪宗頌古聯珠通集 và một số tài liệu khác.

Vấn đề tưởng như đã rõ và đã được giới nghiên cứu thừa nhận từ đó đến nay(2). Tuy nhiên do được tiếp cận một số tư liệu mới, chúng tôi thấy vấn đề không đơn giản như thế.

  1. Huyền Quang không chỉnh sửa chút nào bài thơ Xuân nhật tức sự

Nhóm biên soạn Thơ văn Lý - Trần (tập II, Quyển Thượng, NXB KHXH, H., 1989, tr.681) trong phần giới thiệu về Huyền Quang có viết:

“Xem bài Về tác giả bài thơ Xuân nhật tức sự của LMT, Tạp chí văn học số 1-1984. Mặc dù đã tìm thấy xuất xứ xưa nhất của bài thơ trong thơ Thiền đời Tống, nhưng khi đối chiếu văn bản vẫn có một số chữ sai dị so với bài thơ gốc. Do đó cũng có thể nêu thêm một giả thuyết là biết đâu Huyền Quang chẳng đã mượn bài thơ gốc của Trung Quốc rồi chỉnh lý lại một chút ít (ĐLG nhấn mạnh) để biểu đạt cảm hứng Thiền thâm thúy của mình?”. Sau đó nhóm tác giả đưa bài thơ này ra:

二八佳人刺繡遲、

紫荊花下囀黃鸝。

可憐無限傷春意、

盡在停針不語時。

Nhị bát giai nhân thích tú trì,

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả liên vô hạn thương xuân ý,

Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Dịch nghĩa: Cô gái đẹp đôi tám đang chầm chậm thêu/ Dưới lùm hoa tử kinh chim oanh đang ca hót/ Khá thương thay ý tiếc xuân vô hạn của nàng/ Tất cả đọng lại vào lúc nàng dừng kim không nói năng gì (Đ.L.G).           

Chúng tôi giở những sách Trung Quốc có ghi bài thơ này như:

  • Gia Thái phổ đăng lục 嘉泰普燈錄卷第十五 (Quyển 15, tờ 117c 14-d12), do Lôi Am Chánh Thọ 雷庵正受 biên tập, san hành dưới đời Tống, hoàn thành năm 1204;
  • Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元卷第十九 (Quyển 19, tờ 383a9-b6) do Phổ Tế普濟soạn vào đời Tống, trong khoảng 1228-1233;
  • Tục truyn đăng lục続傳燈錄卷第二十八 (Quyển 28, tờ 657b4-22), sách chép tiểu sử  các Thiền sư khoảng giữa hậu bán thế kỷ X và thế kỷ XIV,

thì thấy các bản Xuân nhật tức sự đều chép giống nhau, và hoàn toàn giống bản trong Thơ văn Lý - Trần nói trên. Điều này làm chúng tôi nghi ngờ không biết nhóm  biên soạn Thơ văn Lý - Trần có thực sự nhìn thấy bài thơ này trong các tài liệu Trung Quốc không. 

  1. Nói thêm về Ảo Đường Trung Nhân (đời Tống)

Trong bài viết Về tác giả bài thơ Xuân nhật tức sự nói trên, Lê Mạnh Thát  đã dịch một đoạn văn giới thiệu về Ảo Đường Trung Nhân trong Gia Thái phổ đăng lục và những tài liệu tương tự. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu thêm về Ảo Đường Trung Nhân qua việc dịch bài 中竺中仁禪師悟道因緣 Trung Trúc Trung Nhân Thiền sư ngộ đạo nhân duyên (Nhân duyên ngộ đạo của Thiền sư Trung Trúc Trung Nhân):

“Lâm An Phủ Trung Thiên Trúc Ảo Đường Trung Nhân là học trò của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần, và là người Lạc Dương. Trung Nhân Thiền sư lúc nhỏ xuất gia ở viện Phụng Tiên, Đông Kinh. Đầu năm Tuyên Hòa thời Huy Tông, Bắc Tống (năm 1119) xuống tóc được độ làm sư. Sau khi thọ giới Cụ túc, từng lui tới nơi dịch kinh Tam Tạng, chuyên tâm ở kinh luận, nhưng đối với Thiền tông thì ông lại chưa tin. Lúc ấy có Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần tu ở chùa Vu Ninh. Một buổi sáng sớm Thiền sư Trung Nhân vào chùa Thiên Ninh yết kiến Thiền sư Viên Ngộ. Đúng lúc ấy Viên Ngộ phải tiếp mọi người vào xin nghe giảng thêm. Trung Nhân nhìn qua thấy uy đức của Viên Ngộ, bèn sinh lòng cảm phục. Vì thế mạnh dạn đến trước mặt Thiền sư Viên Ngộ đảnh lễ. Viên Ngộ nói: “Dựa kinh giải nghĩa, ba đời oan Phật; rời kinh một chữ, tức giống ma nói. Nói mau!”. Trung Nhân thiền sư mở miệng định nói, thì Viên Ngộ vung tay vả vào miệng, vì cú tát ấy mà một cái răng rơi xuống đất. Trung Nhân hoát nhiên đại ngộ.

Sau khi ngộ đạo, Trung Nhân ở lại chùa Thiên Ninh, thường xuyên tham vấn thầy Viên Ngộ. Từ đấy thầy trò hợp đạo, trò chuyện không ngừng. Sau sư Trung Nhân mở trường giảng pháp ở chùa Đại Giác, ít lâu sau dời về chùa Trung Thiên Trúc, sau cùng dời về chùa Linh Phong.

Ngày 8 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1174) niên hiệu Thuần Hi đời Hiếu Tông (Nam Tống), ngày Phật đản, Trung Nhân Thiền sư nhận chiếu chỉ vào cung thuyết pháp. Hiếu Tông hoàng đế đưa ra công án “Bất dữ vạn pháp vi lữ” (Không làm bạn với vạn pháp), mời Trung Nhân Thiền sư giảng giải (đây là công án đối với người xưa, nay được tiến hành bình điểm phát huy để khai mở cho người học đạo). Trung Nhân giảng xong bèn làm bài kệ tụng:

秤鎚搦出油,

閒言長語休。

腰纏十萬貫,

騎鶴上揚州。

Xứng chùy nhược xuất du,

Nhàn ngôn trường ngữ hưu.

Yêu triền thập vạn quán,

Kỵ hạc thượng Dương Châu.

(Quả cân nhấc khỏi dầu,

Đừng nói chuyện chi lâu.

Lưng đeo tiền chục vạn,

Cưỡi hạc lên Dương Châu.)

Trung Nhân Thiền sư khi tiếp mọi người, nói năng khá tự do thoát sáo, thường lấy chuyện khuê các để hợp với cơ duyên của người học đạo. Xin xem hai bài thuyết pháp của Thiền sư.

九十春光已過半,

養花天氣正融和。

海棠枝上鶯聲好,

道與時流見得麼?

Cửu thập xuân quang dĩ quá bán,

Dưỡng hoa thiên khí chính dung hòa.

Hải đường chi thượng oanh thanh hảo,

Đạo dữ thời lưu kiến đắc ma?

(Chín chục ngày xuân quá nửa qua,

Nuôi hoa trời đất khí dung hòa.

Hải đường rực rỡ oanh ca hót,

Đạo với dòng đời hợp vậy a!)

Tuy nhiên làm như thế, khi đã thấu hết thanh và sắc, thì làm sao nói được đạo?

金勒馬嘶芳草地,

玉樓人醉杏花天。

 Kim lặc mã tê phương thảo địa,

Ngọc lâu nhân túy hạnh hoa thiên.

(Dàm vàng ngựa hí đất cỏ xanh,

Lầu ngọc người say trời hoa hạnh.)

            Có lần lên giảng, Sư nói đến chủ đề “Con chó không có Phật tính”, bèn đọc:

二八佳人刺繡遲、

紫荊花下囀黃鸝。

可憐無限傷春意、

盡在停針不語時。

Nhị bát giai nhân thích tú trì,

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả liên vô hạn thương xuân ý,

Tận tại đình châm bất ngữ thì.           

                        (Cô gái đẹp đôi tám đang chầm chậm thêu,

Dưới lùm hoa tử kinh chim oanh đang ca hót.

Khá thương thay ý tiếc xuân vô hạn của nàng,

Tất cả đọng lại vào lúc nàng dừng kim không nói năng gì.)

Dịch thơ:

Thêu chậm gái xinh tuổi cập kê,

Trong hoa ríu rít chim hoàng ly.

Thương thay ý tiếc xuân vô hạn,

Đọng lúc dừng kim chẳng nói gì.

                                                (Đoàn Lê Giang dịch)

Điều quan trọng nhất đối với bậc tu hành chính là phải thấu thanh thấu sắc, không bị thanh sắc mê hoặc. Trốn tránh thanh sắc, vào sâu núi rừng, chỉ là một giai đoạn của tu hành, hẳn nhiên không thể bỏ qua, nhưng cuối cùng cũng phải trở về với thanh sắc để tôi luyện trong đó, để hiện thị tính Kim cương của mình. Ở cái lúc cực kỳ hoan lạc:

Kim lặc mã tê phương thảo địa,

Ngọc lâu nhân túy hạnh hoa thiên.

(Dàm vàng ngựa hí đất cỏ xanh,

                 Lầu ngọc người say trời hoa hạnh.)

Thì phạm lỗi hay không? Nói một ngàn, đạo một vạn, cũng là một điều hiểu biết”(3).

  1. Xuân nhật tức sự của Nam Tẩu Mậu (đời Nguyên)

Trong bài viết đã nói, Lê Mạnh Thát cho biết trong sách Thiền tông tụng cố liên châu thông tập禪宗頌古聯珠通集,một tác phẩm của Pháp Ứng đời Nam Tống biên soạn, sau này được Phổ Hội đời Nguyên tiếp tục chỉnh lý bổ sung, có chép một bài thơ đề là của Nam Tẩu Sực có khác với bài của Trung Nhân Thiền sư. Không biết Lê Mạnh Thát là căn cứ vào đâu mà phiên âm thành SỰC, một âm rất lạ, gần như không phải âm Hán Việt, chúng tôi thấy: đa số các tài liệu đều đề rõ là Nam Tẩu Mậu 南叟茂, Thiền sư đời Nguyên, có vài chỗ đề là Nam Tẩu Nhung南叟茙. Chúng tôi dùng chính thức tên gọi Nam Tẩu Mậu do tính phổ biến của nó. Nam Tẩu Mậu là ai, sách vở không ghi rõ, chỉ biết là nhà sư thời Nguyên và là đệ tử của Thiền sư Thạch Khê Tinh Nguyệt 石溪星月禅师 (một vị Thiền sư thời Nam Tống). Bài thơ của Nam Tẩu Mậu có thể dễ dàng tìm thấy trong các sách điện tử được lưu hành trên mạng internet. Bài thơ có 6 chữ khác với bài Xuân nhật tức sự của Trung Nhân Thiền sư:

日暖佳人刺繡遲

枝上囀黃鸝

欲知無限傷春意,

盡在停針不語時(4)

                 Nhật noãn giai nhân thích tú trì,

                 Tử kinh chi thượng chuyển hoàng ly.

                 Dục tri vô hạn thương xuân ý,

                 Tận tại đình châm bất ngữ thì.

                 (Ngày ấm cô gái đẹp đang chầm chậm thêu,

Trên cành hoa tử kinh chim oanh đang ca hót.

Tôi muốn biết ý tiếc xuân vô hạn của nàng,

Tất cả đọng lại vào lúc nàng dừng kim không nói năng gì) 

Có thể dễ dàng nhận thấy bài thơ của Nam Tẩu Mậu là bài nhuận sắc lại bài Xuân nhật tức sự của Trung Nhân Thiền sư. Bài của Nam Tẩu Mậu sửa lại cho lời thơ hợp lý hơn, rõ ràng hơn, như: “Nhật noãn” (ngày ấm) thay cho “Nhị bát” (đôi tám), vì 16 tuổi cụ thể quá; “Chi thượng” (trên cành) có vẻ hợp lý hơn là dưới hoa tử kinh (hoa hạ); “Dục tri” (Tôi muốn biết) thay cho “Khả liên” cho có vẻ rõ ràng hơn, đỡ trùng ý hơn (liênthương nghĩa gần giống nhau). 

  1. Xuân nhật tức sự là bài “nghĩ cổ” từ Xuân nữ oán của Chu Giáng đời Đường

Trong bài viết Về tác giả bài thơ Xuân nhật tức sự nói trên, Lê Mạnh Thát chỉ khẳng định bài Xuân nhật tức sự không phải của Huyền Quang (Việt Nam) mà của Ảo Đường Trung Nhân, tuy nhiên chúng tôi tìm hiểu thêm thì bài thơ ấy cũng không phải là sáng tác của Ảo Đường Trung Nhân. Trong Toàn Đường thi 全唐詩, quyển 769-28 có một bài thơ tương tự nhan đề Xuân nữ oán春女怨của tác giả Chu Giáng朱絳(5):

        獨坐紗窗刺繡遲,

紫荊花下囀黃鸝。

欲知無限傷春意,

盡在停針不語時。

Độc tọa sa song thích tú trì,

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Dục tri vô hạn thương xuân ý,

Tận tại đình châm bất ngữ thì.

( ngồi một mình bên cửa sổ rèm lụa đang chầm chậm thêu,

Dưới lùm hoa tử kinh chim oanh đang ca hót.

Tôi muốn biết ý tiếc xuân vô hạn của nàng,

Tất cả đọng lại vào lúc nàng dừng kim không nói năng gì).

Dịch thơ:

Thêu chậm một mình bên song khuê,

Trong hoa ríu rít chim hoàng ly.

Biết chăng ý tiếc xuân vô hạn,

Đọng lúc dừng kim chẳng nói gì.

                                    (Đoàn Lê Giang dịch)

Toàn Đường thi tuyển thơ Chu Giáng chỉ mỗi một bài và không ghi chú một chữ nào về ông. Chu Giáng là ai, vẫn là điều bí ẩn. Chỉ biết ông sống khoảng thế kỷ VIII-IX, vì Toàn Đường thi chọn thơ từ Đường thi loại tuyển 唐詩類選 - một tuyển tập được hoàn thành vào đời vua Tuyên Tông, năm 856.

Bài thơ Xuân nữ oán và bài Xuân nhật tức sự có 6 chữ trên tổng số 28 chữ khác nhau, trong đó câu đầu có 4 chữ (Độc tọa song sa/ ngồi một mình bên cửa sổ) được Ảo Đường Trung Nhân sửa đi cho rõ hơn và tình tứ hơn (Nhị bát giai nhân/ Cô gái đẹp 16 tuổi). Dòng thơ thứ ba có 2 từ “Dục tri” (Tôi muốn biết) mà bản của Nam Tẩu Mậu đời Nguyên cũng có, điều ấy cho thấy bài thơ này trước nay có nhiều người biết đến, trong đó có Nam Tẩu Mậu.

Vậy bài Xuân nhật tức sự vốn là bài Xuân nữ oán của Chu Giáng đời Đường được Thiền sư Ảo Đường Trung Nhân đời Tống sửa lại theo kiểu “nghĩ cổ” (mô phỏng người xưa), một cách sáng tác thường thấy của các Thiền sư: mô phỏng bài thơ trước để lồng vào đó ý tưởng Thiền của mình. Trong trường hợp này, Thiền sư Ảo Đường Trung Nhân lấy một bài thơ tình, có tính chất diễm sắc để nói về cái vô thường và cái tâm giác ngộ. Có thể nói, dùng thơ diễm tình để giác ngộ là một pháp môn thường thấy trong việc giác ngộ Thiền thời Đường, Tống.

Kết luận

Vấn đề văn bản và tác giả bài Xuân nhật tức sự quả là không đơn giản, nhưng cũng rất thú vị. Bài viết của Lê Mạnh Thát đã chỉ ra tác giả đích thực của bài này không phải là sư Huyền Quang đời Trần mà là Ảo Đường Trung Nhân của Trung Quốc đời Tống, đồng thời có cho biết dị bản đời Nguyên bài này của Nam Tẩu Sực (?). Bài viết này của chúng tôi cung cấp thêm một số vấn đề nữa. Trước hết là văn bản bài Xuân nhật tức sự được coi là của Huyền Quang hoàn toàn giống với bài của Ảo Đường Trung Nhân, chứ không có chút sửa chữa nào – như nhóm tác giả Thơ văn Lý Trần phỏng đoán. Bài viết cung cấp thêm tiểu sử của Ảo Đường Trung Nhân cũng như tên gọi chính xác của Nam Tẩu Mậu (chứ không phải Nam Tẩu Sực như tác giả Lê Mạnh Thát viết). Và điều quan trọng nhất là tác giả đích thực của bài Xuân nhật tức sự là Chu Giáng đời Đường, và bài thơ ấy có tên ban đầu là Xuân nữ oán. Ảo Đường Trung Nhân chỉ là người sử dụng lại bài này, chỉnh sửa chút ít, theo phương pháp “nghĩ cổ” để biến một bài thơ diễm tình thành một bài thơ Thiền mà thôi.

                                                                                         Đ.L.G
________________

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong mã đề tài số VII 1.2-2012.26

(1) Đinh Gia Khánh, Mai Cao Chương, Bùi Duy Tân, Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, NXB.Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, 1978, tr.166-167. Trong giáo trình này, dòng thứ 2 bài Xuân nhật tức sự đã dịch “Tử kinh hoa nhạ chuyển hoàng ly” là “Dưới bóng hoa tử kinh, chim hoàng ly nhảy nhót”, chữ “Chuyển 囀” dịch là nhảy nhót chắc là không chính xác, mà phải dịch là “ca hót” mới đúng.  

(2) Về Huyền Quang, có thể xem thêm các bài: Nguyễn Phương Chi: Huyền Quang – nhà sư thi sĩ. Tạp chí Văn học, số 3-1982, tr.75-81; Thích Phước An: Thiền sư Huyền Quang và con đường trầm lặng của mùa thu. Tạp chí Văn học, số 4-1992, tr.48-52.

(3) 中竺中仁禪師悟道因緣

 http://www.book853.com/show.aspx?id=2437&cid=53&page=265

(4)公案与禅诗的联璧 ——《颂古联珠》选析

http://www.92to.com/wenhua/2016/04-20/3505134.html;

禪宗頌古聯珠通集卷第十三

http://greatbook.josephchen.org/GREATBOOK/X65/X1295_013.htm   (hàng 116)

 (5) Toàn Đường thi全唐詩, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, in lần thứ nhất tháng 10 năm 1986, in lần thứ 13 tháng 11 năm 1995, tập hạ, trang 1909

 (Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4/2017, tr.25-32)

* PGS.TS., Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học KHXH và Nhân văn – ĐHQG TP.Hồ Chí Minh.