Nguyễn Ngọc Thơ *

  1. Đặt vấn đề

Cho đến nay vấn đề môi trường không còn là một hiện tượng cục bộ của riêng cộng đồng quốc gia – dân tộc nào, mà đã trở thành một vấn nạn chung của nhân loại. Các nhà lập pháp, chính trị gia, các nhà khoa học môi trường và cộng đồng dân cư tiến bộ trên thế giới không ngừng nhận thức và chung tay hành động vì môi trường. Tuy nhiên, để nhận thức và hành động có nền tảng lý luận và phương pháp tiếp cận thực sự, thế giới cần có những kiến giải hàn lâm về môi trường và mối quan hệ con người với môi trường. Hầu hết các nền văn hóa lớn của thế giới đều dành những phần nội dung khá quan trọng trong truyền thống triết học, tôn giáo – tín ngưỡng và phong tục để phản ánh đều này, song cái chung nhất vẫn là quan điểm ‘con người làm trung tâm’ (anthropocentrism), chính vì thế thế chủ động luôn đặt vào tay con người.

Phan Thu Vân*

Những năm trở lại đây, nhiều tổng tập tư liệu văn học chữ Hán của Việt Nam đã được ra đời tại Trung Quốc và lãnh thổ Đài Loan. Bên cạnh những công bố về tư liệu gốc, nhiều nghiên cứu của các học giả quốc tế về tiểu thuyết Hán văn Việt Nam cũng được thực hiện, đưa đến những góc nhìn phong phú đa dạng về văn hóa và văn học Việt Nam. Xét về mức độ tìm hiểu nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Hán văn Việt Nam nói riêng, các học giả Trung Quốc và lãnh thổ Đài Loan có một ưu thế đặc biệt, vì họ am hiểu ngôn ngữ Hán cổ và có thể tiếp cận tư liệu một cách dễ dàng hơn nhiều học giả Việt Nam ngày nay.

Lê Nguyễn

Năm 1863, Sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp để đưa quốc thư bàn việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Đây không phải là sứ bộ đầu tiên của Việt Nam đến đất nước châu Âu này. Trước đó 23 năm (1840), đã có một sứ bộ do Tôn Thất Thường cầm đầu đến Paris với những mục đích không được công bố rõ. Tuy nhiên, sứ bộ Phan Thanh Giản được giới sử học đặc biệt chú ý, chẳng những vì quy mô nhân sự và mục tiêu quan trọng của chuyến đi, mà còn vì một tài liệu quý vừa là bản tấu của sứ bộ dâng lên nhà vua, vừa là một tập du ký ghi chép thật tỉ mỉ và tinh tế những chuyện mắt thấy tai nghe trong suốt cuộc hành trình.

Tạ Duy

Trải qua hàng nghìn năm tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc, người Việt đã đạt được nhiều thành tựu nhờ vào việc xúc hợp những giá trị ngoại lai và những nền tảng vốn có của văn hóa bản địa. Trong lĩnh vực hội họa, các hiện vật hiếm hoi có niên đại từ thế kỷ 17 đã cho thấy sự hiện diện tương đối rõ ràng của phong cách hội họa Trung Quốc, cụ thể trong thể loại tranh tiếu tượng họa 肖像画, tức tranh chân dung.

Nguyễn Hữu Sơn*

  1. Mở đầu

  Khi nói đến “thể tài du ký” cần nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật người viết. Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác chủ yếu bằng bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến du ngoạn, các điểm du lịch, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và còn liên quan tới nhiều phương diện văn hóa học, xã hội học, dân tộc học khác nữa,… [3, tr.75-76].

Nguyễn Duy Đoài*

 ĐẶT VẤN ĐỀ

Bài viết này, chúng tôi trình bày “Tín ngưỡng Thiên Y A Na trong đời sống của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi”, nhằm góp phần tìm hiểu những giá trị lịch sử, văn hóa của cư dân mà cả đời gắn bó với vùng biển đảo này nhằm thích nghi với môi trường sinh sống. Để thực hiện bài viết, chúng tôi dựa trên các lý thuyết để nghiên cứu như: vùng văn hóa (cultural area), thuyết sinh thái văn hóa (cultural ecology),iao lưu tiếp biến văn hóa (cultural exchanges) và chức năng luận (functionalism) để vận dụng vào thực tiễn trong tín ngưỡng Thiên Y A Na của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi.

Phan Thị Thu Hiền*

DẪN NHẬP

Nghiên cứu văn học Việt Nam cần kết hợp cái nhìn bên trong và cái nhìn bên ngoài, chú ý hơn nữa đến đội ngũ và thành tựu của các học giả quốc tế. Điều đó không chỉ giúp chúng ta có điểm tham chiếu để đánh giá khách quan, chính xác hơn nền văn học dân tộc mà còn có thể hiểu biết và xúc tiến nghiên cứu văn học dân tộc trong bối cảnh khu vực và bối cảnh thế giới một cách toàn diện, sâu sắc hơn.

Như Huy

Đào Mai Trang thực hiện

 Lời ngỏ của người thực hiện phỏng vấn

Nghệ thuật đương đại Việt Nam đã có gần 20 năm “lịch sử” với sự khởi đầu của một số nghệ sĩ tiền phong trong nước cùng những người nước ngoài chọn Việt Nam như một điểm dừng chân quan trọng trên hành trình sáng tạo và tìm kiếm bản thể. Đó là một bối cảnh lịch sử còn rất nhiều điểm trống: không có một luồng thông tin chính thống nào về dạng thức nghệ thuật này, bao gồm lý thuyết, sự hình thành-vận động-tiến triển của nghệ thuật đương đại trên thế giới, trong khu vực, một hệ thống báo chí phê bình đúng nghĩa ở trong nước, một hệ thống kiến thức trong trường học, và hơn hết là một hệ thống bảo tàng-gallery-curator-công chúng.