Đinh Khắc Thuân

Ye Shao Fei

Vào những năm đầu thế kỷ XXI, việc nghiên cứu Hán Nôm của Việt Nam tại Trung Quốc phát triển rất mạnh, tập trung chủ yếu ở hai lĩnh vực là nghiên cứu lịch sử và văn hiến. Nhiều đề tài, công trình nghiên cứu được xuất bản, tạp chí, tập san chuyên về nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam cũng xuất hiện ngày một nhiều.

Như Huy dịch

Vài lời người dịch:
Imagined Communities là một cuốn sách vô cùng quan trọng của Benedict Anderson. Trong nghiên cứu về chính trị học, xã hội học, nó có vai trò mở đường khi trọng tâm nghiên cứu của nó chính là về nguồn gốc và sự bành trướng của cái gọi là chủ nghĩa quốc gia/dân tộc. Trong cuốn sách, Benedict Anderson đã chứng minh rõ, khái niệm về quốc gia/dân tộc, tức một khái niệm mà theo ông “đã tạo điều kiện cho việc, trên hai thế kỷ qua, bao nhiêu triệu người sẵn sàng giết và sẵn sàng bị giết “, không phải là môt khái niệm có tính cố hữu, mà là một “tạo vật văn hóa”, có nguồn gốc từ sự mất dần đặc quyền được tiếp cận với các ngôn ngữ kinh thánh (ví dụ tiếng latin), các phong trào nhằm xóa bỏ ý tưởng về thần quyền và vương quyền, cũng như sự xuất hiện của các tờ báo in dưới hệ thống của chủ nghĩa tư bản. Có nghĩa là, theo ông, cái gọi là quốc gia/dân tộc, không phải là điều gì có sẵn và có tính thực hữu, mà chỉ là một sự tưởng tượng- hay dùng thuật ngữ của ông: “ một cộng đồng được tưởng tượng mà ra”.

 Đào Mục Đích
Tiến sĩ, Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

Võ Thanh Hương
Thạc sĩ, Khoa Việt Nam học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

  1. Khái lược về tình hình nghiên cứu Việt Nam ở phương Tây (Pháp và Mỹ)

  Việt Nam học là một ngành khoa học nghiên cứu Việt Nam trong tính tổng thể của nó, một ngành khoa học nghiên cứu về một vùng đất, về con người ở vùng đất ấy với tất cả mối quan hệ với thiên nhiên, với lịch sử và xã hội về mọi mặt, làm nổi rõ những đặc điểm, đặc thù của Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc, 2006, tr.3). Từ khi ra đời đến nay, Việt Nam học đã được nhiều thế hệ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, trí thức, chuyên gia, tác giả người Việt Nam và người nước ngoài cùng góp sức xây dựng, củng cố và phát triển qua những tác phẩm, những công trình nghiên cứu, những công trình dịch thuật (từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài) về đất nước và con người Việt Nam.

Cao Việt Anh

Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam).

EPHE đã kỷ niệm 150 năm hoạt động học thuật của mình vào năm 2018. Hành trình lịch sử của cơ quan nghiên cứu cao cấp về những khoa học liên quan chặt chẽ với con người chính là một chặng đường phát triển của nghiên cứu về Việt Nam đa diện trong tương quan khu vực và toàn cầu, nhấn mạnh một Việt Nam không biệt lập. EPHE được thành lập từ sắc lệnh được ban hành ngày 31 tháng 7 năm 1868 dưới triều đại Hoàng đế Napoléon Đệ Tam, bởi người xúc tiến thiết thực là chính trị gia - sử gia Victor Duruy (1811-1894) ở vị thế Bộ trưởng Bộ Giáo dục công của Pháp quốc. Trải qua 150 năm, EPHE đã tự miêu tả:

Bùi Duy Dương

Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HN.  

  1. Bối cảnh

Năm 2018, hai nước Việt Nam và Nhật Bản kỷ niệm 45 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. 45 năm là một giai đoạn ngắn trong lịch sử quan hệ giao lưu có bề dày gần 1.300 năm giữa hai dân tộc, nhưng đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng, toàn diện của quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản. Quan hệ giữa hai dân tộc chúng ta khởi nguồn từ các mối liên hệ lịch sử, văn hóa, thương mại từ thế kỷ thứ VIII với âm nhạc Lâm Ấp của nhà sư Phật Triết mang tới cố đô Na-ra, hay quan hệ giao thương vào thế kỷ thứ XVI khi các Châu Ấn thuyền Nhật Bản đến Hội An, góp phần tạo dựng nên những trung tâm buôn bán sầm uất đầu tiên ở Việt Nam.

Nguyễn Cảnh Bình

Có thể nói, ở hai ông Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát). Có rất nhiều sự tương đồng về thời đại, về đất nước, về tình hình thế giới bởi cả hai sống cùng trong một giai đoạn lịch sử. Từ thực tế trên, việc so sánh hai nhân vật lịch sử này, đồng thời cũng là những nhà tư tưởng về cải cách, mở cửa có thể mang lại cho chúng ta nhiều điều thú vị.

Tác giả: Momoki Shiro

Theo xu hướng toàn cầu hóa từ cuối thế kỷ XX, phương pháp luận sử học trên thế giới cũng có những chuyển biến lớn, trong đó có sự phát triển của phương pháp luận sử học toàn cầu (global history) [1]. Trong loạt bài về vấn đề này, GS Momoki Shiro, Đại học Quốc gia Osaka, Nhật Bản giới thiệu về phương pháp luận lịch sử toàn cầu, những ảnh hưởng và vai trò của nó trong việc phân tích lịch sử cổ trung đại Việt Nam.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Chương X - NỬA DÒNG MÁU VIỆT 

 đây tôi không có ý định nói chung về tất cả những người lai Việt Nam mà chỉ đặc biệt chú ý tới bốn người đã cầm bút viết về quê ngoại của họ. Những người này đều có ít nhiều tên tuổi song mỗi người phản ứng một cách khi đề cập đến người Việt hay đất Việt. 
Samuel BARON nhận xét về người Việt ở thế kỷ 17 như sau : " tính tình hiền hậu nhưng hèn yếu, ưa khoác lác, hiếu học nhưng chỉ để ra làm quan... " 
Michel Đức CHAIGNEAU xác nhận người Việt ở thế kỷ thứ 19 cũng hay khoe khoang, khoác lác, lại ở bẩn...những nghệ nhân tài giỏi không phải không có nhưng bị chính thể vùi dập... 
Hai người này đã quan sát Việt Nam từ bên ngoài nhìn vào, trong khi ấy thì HỒ Dzếnh và Kim LEFÈVRE lại nhìn Việt Nam từ quả tim nhìn ra nên họ HỒ mới thủ thỉ : " Tôi yêu cái giải đất cần lao này, cái giải đất thoát được ra ngoài sự lọc lừa, phản trắc, cái giải đất chỉ bị bạc đãi mà không bạc đãi ai bao giờ ".