Nohira Munehiro*

  1. Mở đầu

Năm 2015, tôi đã trình bày một giả thuyết về lộ trình đi sứ của Nguyễn Du tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du được tổ chức ở Hà Nội. Mặc dù từ năm 1964, khi ông Nguyễn Văn Hoàn viết báo cáo trên Tạp chí Văn học về lộ trình đi sứ của Nguyễn Du cho đến bấy giờ, nhiều người hoặc ít quan tâm đến hoặc chỉ nghĩ rằng Nguyễn Du đã đến Lâm An (tức Hàng Châu hôm nay) thôi, nhưng tôi đưa ra một giả thuyết khác rằng Nguyễn Du chỉ đến miếu Nhạc Phi ở tỉnh Hà Nam trên đường đi Bắc Kinh, chứ không bao giờ đến thăm mộ Nhạc Phi ở Lâm An trên đường về nước.

Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu. Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world) (1), nói theo Patrick H. Dust.

Nguyễn Văn Lịch[*]

Đông phương học đã ra đời từ thế kỷ XIX ở châu Âu. Việt Nam học ra đời muộn hơn so với các ngành Ai Cập học, Ả Rập học, Ấn Độ học, Trung Quốc học. Từ những năm 1990 ở các nước châu Âu giới nghiên cứu Việt Nam tổ chức những Hội nghị khoa học Euro - Việt. Năm 1998, Việt Nam tổ chức Hội nghị quốc tế Việt Nam học. Năm 2000, Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau đó, Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ 2 năm 2004, lần 3 năm 2008, lần 4 năm 2012, lần 5 năm 2016. Sự quan tâm khá đặc biệt của thế giới đến Việt Nam, của các nhà Việt Nam học quốc tế có tác động làm ngành Việt Nam học ở Việt Nam phát triển.

[*]     Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Thăng Long.

CLAUDE IMBERT
Phạm Anh Tuấn dịch

 Bài thuyết trình của bà Claude Imbert, giáo sư Trưởng Khoa Triết ĐH Sư phạm Cao cấp Paris, tại Viện Triết học, Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2015. Phạm Anh Tuấn dịch, Thầy BÙI VĂN NAM SƠN hiệu đính, bài được in chung trong HÀNH TRÌNH CỦA TRẦN ĐỨC THẢO, HIỆN TƯỢNG HỌC VÀ CHUYỂN GIAO VĂN HÓA, NXB ĐH Sư Phạm ấn hành năm 2017). | Phiên bản điện tử đăng trên triethoc.edu.vn do dịch giả Phạm Anh Tuấn cung cấp.

  1. Nguyễn Đức Mậu

      Nửa cuối thế kỉ XIX Việt Nam nói riêng, và phương Đông nói chung, đứng trước thực tế mới, đó là khả năng xâm lược của Phương Tây. Nhật Bản và Việt Nam, trong hoàn cảnh đó, cùng đều xuất hiện những nhà cải cách  mà tiêu biểu là Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ[1]. Và với xuất phát điểm gần nhau[2] nhưng hai nước đồng văn, đồng chủng này, sau mấy chục năm, trở thành đứng ở hai cực phát triển và lạc hậu, điều gì tạo nên những kết quả như vậy, chắc sâu xa trong đó phần nào là kết quả của những cách nghĩ khác nhau mà những nhà cải cách[3] là người thể hiện rõ cái phần quan trọng của sự khác biệt này.

Nguyễn Văn Hoài*

  1. Tổng quan tình hình giới thiệu, nghiên cứu Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc

Nhìn chung, đến thời điểm hiện tại, số công trình giới thiệu, nghiên cứu về Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc còn khá ít ỏi. Theo chúng tôi, số công trình này có thể chia làm hai nhóm: thứ nhất là, những bài viết giới thiệu tác gia, khái quát thành tựu văn học và phiên dịch giới thiệu tác phẩm; thứ hai là, những bài nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và tác phẩm.

*        Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Nguyễn Tiến Lực*

MỞ ĐẦU

Theo GS Furuta Motoo thì, trong việc nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài (ngoài Việt Nam), xét về quy mô, tổ chức, số lượng báo cáo học thuật lẫn cơ quan nghiên cứu thì Nhật Bản chiếm một vị trí hàng đầu (Furuta Motoo, 2000, tr.227). Trong các Hội thảo Việt Nam học quốc tế, lần nào họ cũng tham dự một số lượng hùng hậu, chiếm giữ nhiều vị trí chủ đạo trong các diễn đàn. Báo cáo của các nhà nghiên cứu Nhật Bản được đánh giá cao bởi nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy, những kết luận rút ra mang tính học thuật cao. Không nghi ngờ gì nữa, xét về nhiều mặt, Nhật Bản trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu về Việt Nam mạnh nhất ở nước ngoài.

Nguyễn Thị Oanh*

Đinh Huyn Phương**

MỞ ĐẦU

Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (Ecole Francaise d'Extrême-Orient, viết tắt là EFEO) là viện nghiên cứu về lịch sử học, khảo cổ và ngôn ngữ học liên quan đến bán đảo Ấn Độ - Trung Hoa và các nước thuộc vùng Viễn Đông (tức Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước thuộc quần đảo Nam Dương). Theo Kim Vĩnh Kiện[1], “Viện Viễn Đông Bác cổ được thành lập vào ngày 15 tháng 12 năm 1898. Trước khi Tổng thống Pháp là Paul Doumer bị ám sát ở Paris (vào ngày mồng 6 tháng 5 [1932]), ông là Tổng đốc Indo Chine của Pháp. Tên đầu tiên của học viện là Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Đông Dương (Mission Archéologique d’Indochine), đến ngày 20 tháng 01 năm 1900 đổi thành tên Viện Viễn Đông Bác cổ. Việc nghiên cứu của học viện mang tính hàn lâm và chiếm vị trị quan trọng trong giới Đông Dương học của thế giới.

*     Phó Giáo sư. Tiến sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long.
**   Thạc sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long.
1     Kim Vĩnh Kiện: “Viện Viễn Đông Bác cổ và một số tình hình gần đây”, đăng trong Tạp chí Sử học Nghiên cứu, quyển 4, số 1, Tokyo, 1932, tr.126.