Bùi Duy Dương

Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HN.  

  1. Bối cảnh

Năm 2018, hai nước Việt Nam và Nhật Bản kỷ niệm 45 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. 45 năm là một giai đoạn ngắn trong lịch sử quan hệ giao lưu có bề dày gần 1.300 năm giữa hai dân tộc, nhưng đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng, toàn diện của quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản. Quan hệ giữa hai dân tộc chúng ta khởi nguồn từ các mối liên hệ lịch sử, văn hóa, thương mại từ thế kỷ thứ VIII với âm nhạc Lâm Ấp của nhà sư Phật Triết mang tới cố đô Na-ra, hay quan hệ giao thương vào thế kỷ thứ XVI khi các Châu Ấn thuyền Nhật Bản đến Hội An, góp phần tạo dựng nên những trung tâm buôn bán sầm uất đầu tiên ở Việt Nam.

Các công trình kiến trúc cổ kính do các thương nhân Nhật Bản xây dựng ở Hội An, những di tích ở Phố Hiến, phong trào Đông Du đầu thế kỷ XX do nhà yêu nước Phan Bội Châu phát động học tập công cuộc Duy Tân của vua Minh Trị,… là những biểu tượng tốt đẹp về sự gắn bó giữa hai dân tộc Việt Nam, Nhật Bản. Sự tương đồng về văn hóa và những liên hệ lịch sử là chất keo tự nhiên gắn kết hai dân tộc, là nền tảng vững bền cho sự phát triển quan hệ giữa hai nước. Chính lẽ đó, mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản trong hơn 45 năm qua đã phát triển trên nhiều phương diện từ chính trị, kinh tế cho đến văn hóa, xã hội.

Đặc biệt, những năm gần đây sự hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa, du lịch, giáo dục, đào tạo không ngừng phát triển. Giao lưu nhân dân, hợp tác lao động và du học tăng trưởng vượt bậc, góp phần quan trọng vào thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường giao lưu hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Tổng số người Việt Nam sang học tập, làm việc và sinh sống tại Nhật Bản đạt hơn 260.000 người, tăng gần 4 lần trong 5 năm gần đây, trở thành cộng đồng nước ngoài lớn thứ 5 tại Nhật Bản. Nhật Bản trở thành đối tác hợp tác du lịch thứ 3 của Việt Nam với gần 800.000 khách du lịch Nhật Bản thăm Việt Nam trong năm 2017. Số lượng khách du lịch Nhật Bản thăm Việt Nam và Việt Nam thăm Nhật Bản trong một năm đã vượt mức 1 triệu lượt khách, tăng gấp 1,5 lần so với thời điểm năm 2013. Các lễ hội thường niên như Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản, Lễ hội Nhật Bản tại Việt Nam và Lễ hội Hoa anh đào Nhật Bản tại Việt Nam,… là những sự kiện được đông đảo nhân dân hai nước mong chờ.

Mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp giữa hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản đã là tiền đề quan trọng cho sự phát triển việc dạy và học tiếng Việt tại Nhật Bản cũng như chiều ngược lại. Trong báo cáo này, chúng tôi muốn đề cập đến tình hình dạy tiếng Việt hiện nay tại Nhật Bản, nhất là tại các trường đại học.

  1. Tình hình giảng dạy tiếng Việt tại các trường đại học

Không phải đến những năm gần đây, phong trào học tiếng Việt tại Nhật Bản mới phát triển mạnh mẽ mà từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, việc học tiếng Việt đã nở rộ tại Nhật Bản. Đó là thời kỳ nhiều công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam nhất. Lúc đó, không chỉ các nhà kinh doanh, nhân viên các công ty sắp đầu tư vào Việt Nam theo học tiếng Việt, mà nhiều tầng lớp xã hội khác nhau như các bà nội trợ, sinh viên các trường đại học, nhân viên các cơ quan nhà nước, chuyên viên các ngành khác nhau, thậm chí cả những người đã về hưu. Mục đích học tiếng Việt: để sang làm việc ở Việt Nam, để đi du lịch hoặc chỉ để tiêu khiển thời gian lúc về hưu nhàn rỗi, nhưng điều quan trọng hơn đó là nhu cầu kết bạn, tìm cơ hội giao lưu văn hóa, xã hội với nước khác. Tuy nhiên, những năm đầu của thế kỷ XXI, nhu cầu học tiếng Việt phần nào lắng xuống do làn sóng đầu tư của các công ty Nhật Bản dần bị thay thế bởi các công ty Hàn Quốc.

Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển về vị thế của khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản một lần nữa được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt lực lượng lao động trong nước của Nhật Bản, khiến số lượng xuất khẩu lao động từ Việt Nam sang Nhật Bản đã tăng đột biến. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tiếng Việt tại Nhật Bản. Một số trường đại học đã mở thêm chuyên ngành tiếng Việt, nhiều trung tâm ngoại ngữ cũng bổ sung dạy thêm ngoại ngữ tiếng Việt… tạo nên bức tranh giảng dạy tiếng Việt tại Nhật Bản đa dạng và nhiều màu sắc. Sau đây, chúng tôi xin trình bày cụ thể bức tranh đó.

2.1. Các trường đại học có chuyên ngành tiếng Việt

Trước hết, chúng ta phải kể đến vai trò quan trọng của các trường đại học có chuyên ngành tiếng Việt riêng biệt với các chuyên ngành ngoại ngữ khác. Đó chính là Đại học Ngoại ngữ Tokyo và Đại học Osaka.

2.1.1. Đại học Ngoại ngữ Tokyo

Khởi nguồn có lẽ phải kể đến chuyên ngành tiếng Việt tại Đại học Ngoại ngữ Tokyo ra đời đúng vào năm Thế vận hội Olympic được tổ chức lần đầu tiên ở Nhật Bản (1964). Khoa Tiếng Việt của Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo được thành lập dựa trên sự cải tổ Khoa Ngôn ngữ Indonesia và kế thừa truyền thống Khoa Tiếng Thái đã tồn tại từ trước đó rất nhiều năm. Nhưng sau khi thành lập, “Khoa Tiếng Việt” của Đại học Ngoại ngữ Tokyo chỉ tồn tại được khoảng 10 năm, sau đó có một thời gian gián đoạn từ sau năm 1970 đến 1980. Đây là giai đoạn Việt Nam trong những năm cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ và những năm đầu của thời kỳ xây dựng đất nước. Thời kỳ này bị gián đoạn do: Thứ nhất là quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong giai đoạn đóng băng; thứ hai là tại Nhật Bản hầu như không có sinh viên đăng ký vào chuyên ngành này. Hơn nữa, việc du học Việt Nam của sinh viên Nhật cũng bị hạn chế do chính sách hạn chế lưu học sinh cư trú dài hạn ở Việt Nam. Nhưng có một điều đặc biệt là, những sinh viên từ trước đó một số năm hay có một số ít những người theo học chuyên ngành Việt ngữ trong thời gian đó, sau này đều trở thành các nhà nghiên cứu so sánh nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam.

Hiện tại, Đại học Ngoại ngữ Tokyo có số giáo viên chính thức giảng dạy chuyên ngành tiếng Việt là ba người, trong đó có hai người Nhật Bản và một giáo viên người Việt Nam, người này là giáo viên thỉnh giảng được mời từ Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh sang. Bên cạnh giáo viên chính thức chuyên nhiệm kể trên còn có một số môn học liên quan đến chuyên ngành Việt Nam học như: Lịch sử Việt Nam, Văn học Việt Nam, Địa lý Việt Nam,... đều do các giáo viên kiêm nhiệm giảng dạy. Họ là những giáo viên của Khoa Ngôn ngữ mà trong cuộc cải cách giáo dục đại học năm 1995 đã phải tạm thời chuyển sang dạy một số môn học khác. Ngày nay, do việc giảng dạy tiếng Việt đang phát triển nên họ đã quay trở lại với chuyên môn chính của mình trước đây. Từ đó các thầy giáo này không chỉ còn là giáo viên trực thuộc Khoa Ngôn ngữ mà còn trở thành các giáo viên “đa khoa” vì họ còn trực thuộc ở ba khoa khác là: Khoa Quốc tế Khu vực, Khoa Văn hóa Tổng hợp, Khoa Thông tin và Ngôn ngữ,... Các thầy chính là người giúp đỡ sinh viên sau khi hoàn thành chương trình tiếng Việt cơ bản đi sâu vào tìm hiểu chuyên ngành. Các thầy tùy theo lĩnh vực chuyên môn của mình lần lượt đảm nhận việc giảng dạy các môn là: Thông tin Việt Nam học, Văn học Việt Nam, Ngôn ngữ tiếng Việt,…

Về số lượng tiết học môn tiếng Việt hầu như không khác trước đây. Hiện tại tùy theo là sinh viên năm thứ nhất hay năm thứ hai mà học 10 tiết tiếng Việt/tuần, sinh viên năm thứ ba và thứ tư có những môn học tự chọn về tiếng Việt. Sinh viên sẽ được học theo từng giai đoạn, từ dễ đến khó, bao gồm: hội thoại, nghe nói, đọc hiểu, ngữ pháp, cách diễn đạt từ,... Sau khi đã thông thạo tiếng Việt ở mức độ nhất định, sinh viên sẽ được học các môn như: “Kinh tế Việt Nam”, “Chính trị Việt Nam”, “Xã hội nông thôn Việt Nam”, “So sánh đối chiếu ngữ pháp Việt - Nhật,... do các thầy giáo giảng dạy kiêm nhiệm đảm nhiệm. Những môn học liên quan đến Việt Nam bây giờ cũng đã thay đổi, nhiều môn học mới xuất hiện làm cho tính chuyên ngành trở nên đa dạng và hấp dẫn hơn. Ngoài ra, lượng kiến thức liên quan đến Việt Nam được sinh viên tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet cũng nhiều hơn trước đây.

Về quy mô lớp học, môi trường giáo dục được mở tương đối thường xuyên ở mức độ trên dưới 15 người/lớp. Với mức độ đó có thể nói rằng, Đại học Ngoại ngữ Tokyo là trường đại học có số sinh viên chuyên ngành Tiếng Việt khá lớn và ổn định so với các trường đại học khác ở Nhật Bản. Ngoài ra, còn có những học viên cao học của nhiều chuyên ngành khác nhau trong trường, cũng quan tâm theo học tiếng Việt. Với một chuyên ngành tiếng Việt bao trùm trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác và cũng có nhiều bậc đào tạo như vậy, Khoa Tiếng Việt tại đây sẽ còn phát triển hơn nữa trong tương lai.

2.1.2. Đại học Osaka

Hiện nay, Bộ môn Tiếng Việt thuộc Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Osaka cũng đang đào tạo khoảng 80 sinh viên và 10 học viên cao học chuyên ngành tiếng Việt. Bộ môn Tiếng Việt ở đây cũng có lịch sử lâu đời gần 50 năm. Từ năm 1977, Bộ môn Thái - Việt thuộc Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngoại ngữ Osaka đã được thành lập. Tuy nhiên đến năm 2007, Đại học Ngoại ngữ Osaka sát nhập với Trường Đại học Osaka, thành Khoa Ngoại ngữ thuộc Trường Đại học Osaka.

Bộ môn Tiếng Việt của Trường Đại học Osaka cũng là một trung tâm giảng dạy tiếng Việt có uy tín ở bậc đại học và sau đại học. Với đội ngũ giảng viên chất lượng, cùng với định hướng nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực văn hóa, xã hội của Việt Nam, Bộ môn Tiếng Việt đã có sự phát triển mạnh mẽ và bền vững. Giảng viên biên chế hiện nay có ba người gồm hai giảng viên người Nhật và một giảng viên người Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có đội ngũ giảng viên thỉnh giảng có chuyên môn sâu, nòng cốt là một giáo sư đã về hưu trước thuộc Bộ môn Tiếng Việt và một giảng viên Việt kiều. Đây là đội ngũ giảng viên chất lượng, đảm nhiệm việc giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về Việt Nam học cho toàn bộ sinh viên và học viên cao học. Chương trình học trong bốn năm được phân bố hợp lý và khoa học. Sinh viên năm thứ nhất, năm thứ hai học khoảng 225 giờ tiếng Việt/năm. Sinh viên năm thứ ba, năm thứ tư có thể lựa chọn nhiều môn học tự chọn liên quan đến Việt Nam học nên có thời lượng dao động từ 180 đến 225 giờ tiếng Việt/năm. Với chương trình học tiếng Việt và Việt Nam học như vậy, bộ môn đã đề ra mục tiêu đào tạo rất rõ ràng. Sinh viên được đào tạo và hoàn thiện cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt. Thậm chí, cuối khóa, sinh viên còn được khuyến khích bảo vệ khóa luận bằng tiếng Việt. Ví dụ một số đề tài khóa luận như: Bước đầu khảo sát về lịch sử múa rối nước, Sự thăng trầm của Hà Nội 36 phố phường, Dạy thêm và học thêm ở Việt Nam, Bước đầu tìm hiểu về những hoạt động giúp đỡ nạn nhân chất độc màu da cam, Nuôi tôm tại Việt Nam – đặc biệt tập trung vào mối liên quan giữa Nhật Bản và Việt Nam, Loại từ trong tiếng Việt,… Chúng ta có thể thấy rằng, đề tài nghiên cứu của sinh viên rất đa dạng và liên quan trực tiếp tới thực tiễn tại Việt Nam. Đây cũng là tiền đề quan trọng để Bộ môn Tiếng Việt, Đại học Osaka đẩy mạnh phát triển các bậc sau đại học như đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Cụ thể hiện nay, có 02 học viên đang theo học trình độ thạc sĩ với các đề tài “Từ Hán Việt trong giáo trình tiếng Việt”, “Tiếng Việt như ngôn ngữ di sản” và 03 nghiên cứu sinh đang theo học trình độ tiến sĩ với các đề tài “Ngôn ngữ dân tộc Tày - Nùng”, “Văn tự học Việt Nam”, “Phương ngữ học Việt Nam”.

2.2. Các trường đại học coi tiếng Việt là ngoại ngữ

Đó là những trường đại học ngoại ngữ mà tập trung đào tạo nhiều ngoại ngữ trên thế giới. Bên cạnh tiếng Anh được coi là ngoại ngữ thứ nhất, thì các ngôn ngữ khác được coi là ngoại ngữ thứ hai và được giảng dạy song song với ngoại ngữ thứ nhất trong suốt thời gian học đại học.

2.2.1. Trường Đại học Ngoại ngữ Kanda

Đại học Ngoại ngữ Kanda là một trường đại học dân lập được thành lập từ năm 1987. Đến năm 2001, Bộ môn Tiếng Việt thuộc Khoa Ngôn ngữ Châu Á được thành lập và phát triển cho đến ngày nay. Trong những năm gần đây, với bối cảnh phát triển mạnh mẽ quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản mà số lượng sinh viên của trường cũng tăng lên đáng kể. Trước đây, mỗi khóa chỉ khoảng 15 - 20 sinh viên, nhưng mấy năm gần đây, số lượng tăng lên đáng kể khoảng 30 sinh viên và được chia làm hai lớp. Về chương trình đào tạo, đây là mô hình đào tạo sinh viên song song hai ngoại ngữ, tiếng Anh và tiếng Việt. Đây là đặc trưng của hệ thống giáo dục của trường với tên gọi là Double major, ví dụ: tiếng Anh 4 tiết/tuần thì tiếng Việt 5 tiết/tuần. Vì vậy, số tín chỉ tiếng Việt trong chương trình đào tạo của sinh viên cũng chiếm khoảng một nửa 64 tín chỉ/124 tín chỉ. Với thời lượng đào tạo như vậy, trường cũng xác định chuẩn đầu ra một cách rõ ràng theo khung Năng lực tiếng Việt 6 bậc, trong đó sinh viên của trường cần đạt được ít nhất là B2 sau thời gian học tập. Trường xác định mục tiêu cụ thể của từng năm học. Sinh viên năm thứ nhất cần đạt trình độ A1, sinh viên năm thứ hai cần đạt trình độ A2, sinh viên năm thứ ba cần đạt trình độ B1, sinh viên năm thứ tư và sinh viên đã du học ở Việt Nam về cần đạt trình độ B2 hoặc cao hơn.

Đây là một trong những trường rất chú trọng đến hoạt động ngoại khóa để nâng cao hiệu quả trong việc học ngoại ngữ của sinh viên. Trường là đơn vị đứng ra tổ chức thường niên Cuộc thi hùng biện tiếng Việt cho sinh viên Nhật Bản. Đây là cuộc thi có uy tín với sự tham gia của sinh viên đến từ nhiều trường đại học ở Nhật Bản. Trường cũng tích cực tổ chức các hoạt động du học tại Việt Nam, tạo điều kiện cho sinh viên có thể du học Việt Nam từ 6 tháng đến 1 năm. Điểm đặc biệt nữa của Trường Đại học Ngoại ngữ Kanda là mô hình câu lạc bộ giao lưu quốc tế. Vì đây là trường quốc tế nên có số lượng lưu học sinh quốc tế đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, câu lạc bộ Nhật - Việt hoạt động mạnh mẽ và tích cực, tạo ra môi trường giao lưu ngôn ngữ, văn hóa giữa các sinh viên Việt Nam và sinh viên Nhật Bản học tiếng Việt. Đây là môi trường rất tốt để các sinh viên Nhật Bản có thể thực tập tiếng Việt ngoài giờ học, nâng cao khả năng, sự tự tin trong giao tiếp, nhất là hiểu thêm được phần nào về văn hóa và con người Việt Nam.

2.2.2. Trường Đại học Nữ Showa

Đây là một trường đại học mới có chuyên ngành tiếng Việt. Từ năm 2016, sinh viên Khoa Quốc tế của trường có thể lựa chọn tiếng Anh và 06 ngôn ngữ khác, gồm có tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Việt. Bộ môn Quốc tế của Khoa Quốc tế có chủ trương rất rõ ràng “English plus one”, nên tất cả các sinh viên đều phải lựa chọn thêm một ngôn ngữ nêu trên ngoài tiếng Anh. Việc định hướng cho sinh viên được tiến hành ngay từ đầu năm học đối với sinh viên năm thứ nhất. Số lượng sinh viên lựa chọn tiếng Việt cũng tăng dần theo thời gian, năm 2016 có 3 sinh viên, năm 2017 có 3 sinh viên thì năm 2018 có đến 8 sinh viên. Đây là một dấu hiệu tích cực đối với chuyên ngành tiếng Việt của trường này.

Để xây dựng được chương trình chuyên ngành tiếng Việt này, Trường đã có những bước đi khá bài bản và cẩn thận. Lãnh đạo, giảng viên của khoa đã nhiều lần sang Việt Nam để khảo sát chương trình du học cho sinh viên. Từ đó, chương trình đào tạo được xây dựng tỉ mỉ và chi tiết tới từng học kỳ của mỗi năm học. Sinh viên năm thứ nhất học kỳ 1 học 4 tiết tiếng Việt/tuần, học kỳ 2 học 6 tiết/tuần. Sinh viên năm thứ hai, ở học kỳ 1 học 6 tiết/tuần. Sau đó, tất cả các sinh viên đều phải đi du học Việt Nam trong 10 tháng. Sinh viên năm thứ ba sau khi từ Việt Nam trở về, học tiếp học kỳ 2 với thời lượng 2 tiết/tuần. Đối với sinh viên năm thứ tư thì chỉ còn 1 tiết/tuần. Đội ngũ giảng viên có bốn người, trong đó có hai người Nhật và hai người Việt, được mời từ các trường đại học nổi tiếng như Đại học Ngoại ngữ Tokyo, Đại học Tokyo, Đại học Waseda,… Với chương trình đào tạo như vậy, sinh viên được trang bị những kiến thức cơ bản về tiếng Việt, cũng như những trải nghiệm thực tế về đất nước và con người Việt Nam. Việc yêu cầu tất cả các sinh viên đều phải đi du học đã tạo ra môi trường bình đẳng trong quá trình đào tạo, khả năng của các sinh viên khá đồng đều nhau. Tuy nhiên, cũng có một trở ngại nhỏ là khi sinh viên trở về sau thời gian du học, phải học nhiều môn chuyên ngành khác để kịp thời gian tốt nghiệp. Chính vì vậy, thời gian học tiếng Việt cũng đã bị giảm đi khá nhiều, nhất là đối với sinh viên năm thứ tư. Đây là một khó khăn trong việc duy trì học tiếng Việt.

2.2.3. Học viện Ngoại ngữ Kanda

Học viện được thành lập từ năm 1957, bao gồm 10 khoa và các chuyên ngành khác nhau, trong đó có Khoa Ngôn ngữ Á - Âu. Từ năm 2014, Bộ môn Tiếng Việt được thành lập và thuộc khoa này. Vì bộ môn mới được thành lập nên số lượng sinh viên theo học tiếng Việt vẫn còn khiêm tốn. Hiện nay, học viện có 8 sinh viên học tiếng Việt. Tuy nhiên, đối tượng học ở đây khá đặc biệt, thường là các gia đình đang kinh doanh với Việt Nam hoặc có công ty tại Việt Nam. Một đối tượng nữa chính là con lai Nhật - Việt. Vì vậy, việc giảng dạy tại trường cũng có những đặc thù nhất định, ví dụ: có một số em có thể phát âm tiếng Việt, thậm chí nói tiếng Việt trôi chảy nhưng lại không biết viết và đọc tiếng Việt. Thời gian đào tạo tiếng Việt ngắn, trong vòng hai năm (6 học kỳ), trong đó có 4 học kỳ học trong nước (Nhật Bản) và 2 học kỳ du học Việt Nam tại Đại học Hà Nội. Tuy thời gian học ngắn, nhưng sinh viên ở đây có thời gian du học tại Việt Nam khá dài nên trình độ tiếng Việt sinh viên của học viện cũng khá khả quan.

2.3. Các trường đại học có giảng dạy tiếng Việt như một môn tự chọn

2.3.1. Đại học Châu Á Thái Bình Dương

Trường Đại học Châu Á Thái Bình Dương Ritsumeikan (gọi tắt là APU), là một trong nhiều cơ sở của tập đoàn giáo dục nổi tiếng Nhật bản Ritsumeikan. Trường được thành lập tháng 4 năm 2000. Đây là một trong những trường đại học theo đuổi mô hình đào tạo vượt ra ngoài những gì vốn được coi là truyền thống của nền giáo dục Nhật Bản. Với 50% số sinh viên và giáo viên đến từ khắp nơi trên thế giới, với chương trình đào tạo sử dụng hai ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Nhật, APU thực sự đã trở thành một trường đại học quốc tế, đa văn hóa. Điều đặc biệt là trường có giảng dạy bộ môn tiếng Việt. Đây là một ngoại ngữ tự chọn của sinh viên.

Trong những năm gần đây, với sự nỗ lực của các giáo viên tiếng Việt tại trường, số lượng sinh viên đăng ký học môn tiếng Việt ngày càng tăng. Một điều đặc biệt nữa, quốc tịch của sinh viên đăng ký học môn tiếng Việt cũng ngày càng đa dạng. Không chỉ có sinh viên người Nhật mà sinh viên đến từ nhiều quốc gia khác cũng đăng ký học tiếng Việt. Chương trình giảng dạy tiếng Việt ở đây được phân theo trình độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp, không phân biệt sinh viên đó là năm thứ mấy hoặc đến từ ngành học nào. Điều đó tạo nên sự đa dạng trong sinh viên học tiếng Việt nhưng cũng là thách thức đối với các giáo viên tại đây. Họ phải dạy tiếng Việt một cách cuốn hút, tạo động lực cho sinh viên, tạo hứng thú cho sinh viên yêu thích tiếng Việt.

Bên cạnh đó, trường cũng có những lợi thế nhất định. Với 152 trường đối tác tại 49 quốc gia và khu vực, các sinh viên của trường có thể lựa chọn các chương trình ngắn, dài hạn tại các nước khác nhau. Hàng năm, trường đều có sinh viên chọn các chương trình ngắn hạn học tại Việt Nam. Ngoài ra, trường Đại học APU còn có lượng sinh viên người Việt chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng sinh viên nước ngoài đến APU. Con số sinh viên Việt học Đại học APU Nhật Bản Ritsumeikan đang đứng thứ tư, ba thứ hạng đầu thuộc về Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan. Đây là điều kiện thuận lợi cho các sinh viên học tiếng Việt có cơ hội giao tiếp, giao lưu văn hóa để hiểu thêm về tiếng Việt. Đồng thời, những sinh viên Việt Nam cũng có tác động nhất định đến những sinh viên khác trong việc chọn học tiếng Việt.

Một đặc sản tại APU là trường thường xuyên tổ chức Tuần lễ đa văn hóa. Hàng năm, trong Kỳ mùa Xuân (tháng 4 - 7) và mùa Thu (tháng 12 - 2), những sắc màu văn hóa vô cùng đa dạng của các đất nước và khu vực khác nhau sẽ được thể hiện qua những sự kiện trong tuần lễ văn hóa. Mỗi tuần sẽ là chủ đề về một quốc gia; những tuần lễ này được biên đạo và thực hiện hoàn toàn bởi các sinh viên. Các sinh viên tham gia không chỉ là sinh viên bản địa mà còn có cả sự tham gia của các sinh viên trên nhiều quốc gia khác. Tuần lễ Việt Nam chính là một dịp quan trọng để các sinh viên học tiếng Việt có thể giao lưu, nâng cao trình độ tiếng Việt.

2.3.2. Đại học Daitobunka

Đây là một trường đại học chuyên về các môn khoa học xã hội và nhân văn. Khoa Quan hệ Quốc tế là một trong những khoa quan trọng của trường. Mục đích chính là nghiên cứu lý luận quan hệ quốc tế, bao gồm nhiều bộ môn về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ của các nước như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mianma, Indonesia,… Sau khi nhập học, sinh viên sẽ chọn một trong tám ngôn ngữ ở châu Á, trong đó có tiếng Việt. Sinh viên học ngoại ngữ để đọc tài liệu và viết khóa luận liên quan đến ngoại ngữ đó. Nhiệm vụ của giảng viên là làm cho những sinh viên đã lựa chọn tiếng Việt, có động lực học tiếng Việt và quan tâm đến Việt Nam.

Hiện nay, trường có ba giáo viên dạy tiếng Việt (hai giáo viên người Nhật và hai giáo viên thỉnh giảng người Việt). Sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai chỉ học tiếng Việt có 3 tiết 1 tuần, trong đó giáo viên Nhật dạy 2 tiết, giáo viên Việt dạy 1 tiết. Đối với sinh viên năm thứ ba, thứ tư chỉ có 1 tiết tiếng Việt tự chọn do giáo viên Việt đảm nhiệm. Do hạn chế về thời lượng tiết học tiếng Việt trong chương trình của sinh viên nên nội dung giờ học chủ yếu tập trung vào từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt tối thiểu, chủ yếu là bậc sơ cấp. Sau đó, sinh viên được du học một tháng học kỳ hè ở Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh. Năm thứ ba sinh viên được chọn đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp. Tiêu chí đánh giá càng sử dụng nhiều tài liệu bằng ngoại ngữ đã chọn thì càng tốt. Như vậy, chúng ta có thể thấy với mô hình đào tạo này thì sinh viên có năng lực tiếng Việt không cao, nhất là năng lực hội thoại.

Trong tương lai, Nhật Bản sẽ có nhiều trường giống Đại học Daitobunka – giảng dạy tiếng Việt cho các sinh viên không thuộc chuyên ngành tiếng Việt. Hiện nay có một số trường khác như Đại học Soka, Đại học Ibaraki, Đại học Châu Á ở Tokyo, Đại học Kokushikan,… và những trường tư thục nổi tiếng như Đại học Keio, Đại học Waseda,… đều có giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam học. Hầu hết các giáo viên ở đây đều là những nhà Việt Nam học nổi tiếng. Việc giảng dạy tiếng Việt chủ yếu tập trung cho những nghiên cứu về Việt Nam với nhiều chuyên ngành khác nhau. Do vậy, giảng viên cần nghiên cứu phương pháp giảng dạy tiếng Việt phù hợp với đối tượng này

2.3.3. Trường THPT Quốc tế Kanto, Tokyo

Tiền thân là Trường THPT Nữ Kanto, đến năm 1986 đổi thành THPT Quốc tế Kanto và thành lập Khoa Ngoại ngữ chủ yếu dạy cho các trẻ em lai hoặc con em cán bộ ngoại giao, lúc đầu có tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga,… Đến năm 2007, có thêm ba bộ môn tiếng nước ngoài trong đó có Thái, Indonesia, Việt Nam. Đây có thể coi là một trong số ít những trường cấp ba hiện nay dạy tiếng Việt tại Nhật. Các em học sinh học tiếng Việt với mục đích: được ưu tiên khi đăng ký thi các trường đại học có chuyên ngành tiếng Việt hoặc quan tâm đến Việt Nam, nhất là kinh tế.

Chương trình được xây dựng với việc học tiếng Việt trong hai năm. Số lượng học sinh khoảng 40 em. Mục tiêu giảng dạy là học sinh có thể đạt trình độ từ A2 đến B1. Nhà trường cũng cố gắng để học sinh có chuyến đi giao lưu văn hóa ở Việt Nam nhằm tạo động lực học tiếng Việt, cũng như định hướng phát triển cho các học sinh này. Các em học sinh thường ở homestay tại Hà Nội trong khoảng 1 đến 2 tuần, cá biệt có trường hợp du học đến 7 tháng tại Trường THPT Newton (Hà Nội). Đây là một trải nghiệm thú vị giúp các em học sinh thêm yêu tiếng Việt và con người Việt Nam.

  1. Kết luận

Mặc dù, hiện nay việc học tiếng Việt đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nhưng để phát triển mang tính toàn diện hơn nữa phong trào học tiếng Việt tại Nhật, chúng tôi đề xuất một số phương hướng cụ thể sau:

- Thông qua Đại sứ quán, thông qua các hoạt động ngoại giao chính thức giữa nước ta và Nhật Bản cần khẳng định vị thế của tiếng Việt, qua đó nâng cao được vai trò của việc cần thiết học và dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ tại Nhật trong mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia.

- Chúng ta có thể trực tiếp đề nghị, hoặc thúc đẩy hợp tác giúp đỡ theo yêu cầu phía bạn bằng các hoạt động trao đổi giáo viên, sinh viên,… Chúng ta có thể tăng thêm những học bổng cho sinh viên Nhật học tiếng Việt, có thể cử những giáo viên có chuyên môn vững vàng sang trợ giúp phía bạn trong việc giảng dạy tiếng Việt. Đồng thời quan tâm hơn nữa việc giúp các trường đại học của Nhật Bản hiện đang đào tạo tiếng Việt trong việc hoàn chỉnh, thống nhất giáo trình tiếng Việt. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần phối hợp tổ chức cuộc thi “Năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài” tại Nhật Bản. Đó là nhân tố quan trọng tác động mạnh mẽ đến việc dạy và học tiếng Việt.

- Đối với cộng đồng khoảng hơn 30.000 kiều bào Việt Nam đang sống tại Nhật, có rất nhiều người thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba và hầu như không biết tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt). Việc gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc là một vấn đề hết sức quan trọng và có ý nghĩa với cộng đồng này nên việc duy trì và phát triển hơn nữa việc dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở đây là hết sức cần thiết. Chúng ta cần đẩy mạnh các đề án như “Hỗ trợ việc dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài”, “Tập huấn giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt ở nước ngoài”,…; tổ chức một số chương trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài qua đài phát thanh, truyền hình, nhất là qua internet (tiếng Việt online). Có như vậy, chúng ta mới thúc đẩy hơn nữa phong trào học tiếng Việt tại nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản - một trong những đối tác quan trọng của chúng ta hiện nay.

TÀI LIU THAM KHO

  1. http://www.tufs.ac.jp/common/fs-pg/yone nkan.html.
  2. http://www.osaka-gaidai.ac.jp/~vietnam/ index.htm.
  3. http://www.fls.keio.ac.jp/lang13.htm.
  4. http://coelang.tufs.ac.jp/modules/vi/index.html.
  5. http://vietnam.apu.ac.jp/wordpress/student_life/campus-event/vietnamese-week/.
  6. Lưu Thị Thu Thúy (2008), “Học tiếng Việt tại Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3/2008, trang 15-23.
  7. Viện Thông tin Khoa học xã hội (1998), Việt ngữ học ở nước ngoài, NXB Khoa học xã hội,
    Hà Nội.
  8. Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam (2019), Kỷ yếu workshop quốc tế về việc giảng dạy và đánh giá năng lực tiếng Việt, Đài Loan, tháng 3/2019.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ IV với chủ đề Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay

NXB: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - 2019 (từ  trang 1 đến trang 11)