Thích Đại Sán

I. NGÀY THÁNG XUẤT BẢN SÁCH HẢI NGOẠI KỶ SỰ VÀ NỘI DUNG CỦA SÁCH

Nguyên bản in sách Hải ngoại kỷ sự do Thích Đại Sán biên soạn, hiện còn tàng trữ tại Đông dương Văn khố Nhật bản (日本東洋文庫) và Quốc lập Trung ương Đồ thư quán Trung hoa (國立中央圖書館,中華) bản của Đông dương Văn khố (kệ sách số 11, 11-k-56) chia 6 quyển ra làm 6 tập. Còn bản của Trung ương Đồ thư quán thì 6 quyển đóng thành 2 tập. Đầu bản sách của Đông dương Văn khố có đóng 3 con dấu: “Đông dương văn khố”, “Tứ minh Lư thị bão kinh lâu Tàng kinh ấn”, và “Đăng điền kiếm phong tàng thư chi ấn” do đó, biết bản sách ấy nguyên thuộc Bão kinh đường tàng thư của Lư Văn Chiêu  ở Dư Liêu, sau vào tay Đằng điền Phong bát (Khiếm phong), bác sĩ người Nhật bản và sau khi Đằng Điền bác sĩ qua đời, mới bỏ vào Đông dương văn khố.

Tác giả bài viết: Huỳnh Lứa

Nói đến công cuộc khai phá vùng đất trấn Hà Tiên trong giai đoạn ban đầu - vào những thập kỷ cuối thể kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII, một vấn đề đặt ra là nên đánh giá vai trò và công lao của họ Mạc - Mạc Cửu và con là Mạc Thiên Tích - như thế nào cho đúng. Về vấn đề này trước nay đã có nhiều ý kiến nêu lên, tuy có khác nhau về sắc thái, nhưng tựu trung đều nhấn mạnh hoặc ra sức đề cao vai trò và công lao của hai cha con họ Mạc, coi đó là nhân tố quyết định đối với công cuộc khai phá vùng đất thuộc trấn Hà Tiên lúc mới bắt đầu, quy kết tất cả công lao khai phá Hà Tiên về cho Mạc Cửu và con là Mạc Thiên Tích.

PGS. Kimura Mizuka

Giới thiệu

Theo báo cáo nghiên cứu được tiến hành vào năm 1945, Chen Chin-ho (Trần Kinh Hòa) đã liệt kê 41 họ tộc ở làng Minh Hương, trong số đó hàng chục họ tộc được cho là có nguồn gốc từ người Trung Hoa xưa như Cam, Chu, La, Hầu, Lưu, Nhân...

Lịch sử di cư và nghi lễ thờ cúng tổ tiên của các dòng họ gốc hoa ở Hương Vinh

Lê Tắc

TÓM TẮT NỘI DUNG

Số lượng văn hiến có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử Trung Quốc khá phong phú, nhưng nhiều tác phẩm đã thất lạc, số còn lại thì việc chỉnh lý và sử dụng cũng chưa được bao nhiêu. Bài viết này, trên cơ sở thư mục xưa nay và các điển tịch liên quan, thử tìm hiểu rõ tình trạng cơ bản của loại văn hiến này về các mặt: phân bố lịch sử, hiện trạng mất còn, quan hệ giữa chúng với nhau, đồng thời trình bày vắn tắt giá trị của chúng. Với bài viết này, hy vọng sẽ cung cấp một đầu mối văn hiến cơ bản cho công tác nghiên cứu về Việt Nam.

Hành trình hơn một thế kỷ nghiên cứu văn hóa Việt Nam của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) được đánh dấu bằng một cột mốc quan trọng và ý nghĩa: màn chào đón bộ sách tranh Lục Vân Tiên về lại cố hương...

(Bài nói chuyện trong khuôn khổ Ngày Văn Hóa và Sinh Nhật thứ XVIII Thư Viện Giáo Xứ Việt Nam Paris tổ chức ngày 30-3-2008).

«Di ảnh thánh Philipphê Phan Văn Minh được cất giữ tại Đan Viện Carmel (Cát Minh), 33 đường Cường Để Saigon. Mặt khác, Đại Chủng Viện Pénang (Mã Lai), nơi thánh Philipphê Phan Văn Minh tu học cùng với các thánh tử đạo khác là Phêrô Đoàn Công Quý, Phaolô Lê Văn Lộc, Gioan Đoàn Trinh Hoan và Phêrô Nguyễn Văn Lựu cũng tôn kính di ảnh ngài. (Ngày nay, Đại Chủng Viện Pénang trực thuộc Giáo Hoàng Học Viện Urbani Roma).

PGS.TS. Lê Giang (Đoàn Lê Giang)

Hình ảnh về đời sống nước ta còn lưu lại trong thư tịch rất ít. Tư liệu  phong phú nhất là bộ tranh khắc gỗ của Henri Oger Kỹ thuật của người An Nam với hơn 4500 bức hoàn thành vào đầu thế kỷ XX. Trước đó, ta có thể tìm thấy hình ảnh đời sống qua một số hình vẽ lẻ tẻ trong một số sách Hán Nôm trong nước và cả sách vở nước ngoài như Trung Quốc, châu Âu v.v… Tìm vào thư tịch cổ Nhật Bản, chúng tôi tìm thấy khá nhiều hình ảnh đời sống người Việt từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong đó có tư liệu quan trọng là bộ An Nam kỷ lược cảo安南紀畧藁  của Kondo Juzo近藤 重蔵 hoàn thành vào cuối TK.XVIII.

Tóm tắt

Ngoại phiên thông thư 外蕃通書 (còn có tên khác là “Ngoại phiên thư hàn” 外蕃書翰) là tập thư từ ngoại giao giữa Mạc phủ Tokugawa徳川với các nước: Triều Tiên, Lữ Tống (Philippine), Campuchia, Thái Lan, Việt Nam... Thời gian trao đổi các bức thư này là khoảng thế kỷ 17, tương đương với thời Edo sơ kỳ đến trung kỳ của Nhật Bản, và thời Trịnh-Nguyễn phân tranh ở Việt Nam. Người tập hợp, chỉnh lý tập sách ấy là Kondo Juzo 近藤 重蔵 (cũng gọi là Kondo Morishige 守重) (1771-1829), học giả, bề tôi của Mạc phủ Tokugawa.