Nguyễn Thị Hoàng Yến*

  1. Thuộc tính ngữ nghĩa - ngữ pháp của nhóm vị từ làm, khiến, gây

1.1. Cấu trúc tác động - gây khiến (causative resultative) mô tả thực thể gây ra sự việc có một hành động trực tiếp tác động đến đối tượng (người, sự vật, sự việc) và sự tác động này làm cho đối tượng thay đổi trạng thái (tính chất, tình trạng) hay vị trí, gây nên một quá trình mà bổ ngữ chính là đối thể của hành động chuyển tác ấy[1]. Dạng thức của một cấu trúc gây khiến - kết quả là [NP1 V1 NP2 XP] (“Họ bắn tàu chìm”). Trong đó, NP1 là danh ngữ chủ ngữ/tác thể, V là vị từ tác động, NP2 là người/vật bị tác động và XP là ngữ kết quả/trạng thái mới của NP2 (in nghiêng).

*     Thạc sĩ, Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQG TP HCM

[1]     Cao Xuân Hạo (2006). Tiếng Việt Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, NXB KHXH, tr.439.

Nhóm vị từ: làm, khiến, gây

___________________________________________________________

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ IV với chủ đề Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay
NXB: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - 2019 (từ  trang 477 đến trang 487)