Nguyễn Hoàng Trung

DẪN NHẬP

Tên gọi của khung tham chiếu CEFR phản ánh ý định của các nhà soạn thảo châu Âu. Trước tiên, khái niệm “khung” (framework, cadre) thể hiện ý định xây dựng một bộ tài liệu ‘khung’ nhằm tạo điều kiện cho các quốc gia thực hiện một chính sách ngôn ngữ - với tư cách là sinh ngữ - một cách mạch lạc và có khả năng phối hợp giữa các quốc gia thành viên nhằm đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng của các chương trình giảng dạy. Khung tham chiếu CEFR không cổ xúy cho một học thuyết cụ thể nào trong việc dạy học, song nó hoàn toàn đề cao hướng tiếp cận “hành động” và “giao tiếp” trong dạy và học sinh ngữ vì một ngôn ngữ trước tiên là một phương tiện giao tiếp.

Trần Trọng Nghĩa 

Nguyễn Hoàng Phương 

  1. Đặt vấn đề

Khi đưa ra nhận định văn bản này khó, văn bản kia dễ thì tính chất khó hay dễ không hoàn toàn nằm ở bản thân của văn bản đó mà còn nằm ở thế so sánh của nhiều yếu tố khác như đối tượng, trình độ học viên và cả tính logic khoa học của thiết kế văn bản cũng góp phần làm nên nội hàm của tính chất này. Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi công tác biên soạn tài liệu cũng như thiết kế văn bản dạy học cần được chú trọng đầu tư theo hướng quy mô, chuyên nghiệp hơn.

Tác giả: Đào Tiến Thi

Như chúng ta biết, chữ Quốc ngữ ra đời từ thế kỷ XVII. Ban đầu nó chỉ dùng để truyền đạo trong nhà thờ Thiên chúa giáo, mãi về sau, khoảng gần 30 năm cuối thế kỷ XIX, nó được một số nhà văn Nam Kỳ dùng để viết truyện. Nhưng trong gần 30 năm đó, chữ Quốc ngữ cũng hầu như chỉ sử dụng trong phạm vi Nam Kỳ, không ảnh hưởng ra toàn quốc. Ngoài việc do Nam Kỳ còn là một vùng dân cư thưa thớt, văn hoá chưa có bề dày, thì theo chúng tôi, có nguyên nhân quan trọng hơn: giới trí thức cả nước nói chung chưa có ý thức cải cách xã hội nên chưa nghĩ đến công cụ này.

Lê Thị Thuỳ Vinh

  1. Đặt vấn đề

1.1. Trong công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, giảng dạy từ vựng được quan tâm và đánh giá là một trong những phạm vi giảng dạy quan trọng bậc nhất. Bởi từ vựng là vật liệu để xây dựng ngôn ngữ, bộ mặt của từ vựng luôn phản ánh bộ mặt của ngôn ngữ. Hơn nữa, từ cũng là đơn vị cơ bản nhất đảm nhiệm nhiều chức năng của các đơn vị khác.

Hoàng Quốc

Phó giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Sài Gòn

  1. Đặt vấn đề

Trong tiếng Việt toàn dân, xưng hô trong quan hệ gia đình thường được sử dụng thành cặp tương ứng giữa xưng và hô theo quan hệ thứ bậc (trên - dưới) và theo quan hệ dòng họ (nội - ngoại). Cặp xưng hô tương ứng theo quan hệ thứ bậc như: ông, bà - cháu; bố, mẹ - con; anh, chị - em. Cặp xưng hô tương ứng theo quan hệ dòng họ như: cô/ bác (bên nội) - dì/cậu (bên ngoại); mợ/dượng (bên ngoại) - bác/thím (bên nội) - cậu / dì (bên ngoại).

Lê Thị Minh Hằng

Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

Nhóm liên từ nhưng, mà, còn, chứ có nhiều đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng gần gũi nhau, và cũng rất khác biệt nhau. Việc chỉ ra những đặc điểm đó, và cùng với nó là những chỉ dẫn sử dụng, là một hướng lập thức quan trọng phục vụ cho lý thuyết Việt ngữ học và cả thực tiễn giảng dạy tiếng Việt. Tuy nhiên, từ trước đến nay, các công trình có liên quan đều chưa đủ thuyết phục.

Cù Thị Minh Ngọc

Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

  1. Đặt vấn đề

Tất cả mọi người đều mong muốn phát triển những mối liên hệ tốt, biết quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mối liên hệ tốt, trong môi trường lớp học, ta có thể gọi là sự cộng tác, không những là nền tảng cho hạnh phúc và bình an mà còn là nền tảng cho những hoạt động tốt trong việc học tập. Do đó, việc dạy học sẽ phát triển mạnh mẽ và mang lại hiệu quả cao khi các học viên có được cảm giác an toàn, được chăm sóc, sự cộng tác hay mối quan hệ tốt (rapport) với bạn bè cùng lớp, với thầy cô. Tình bạn với một nhóm ở trường học là điều kiện tiên quyết cho việc sẵn sàng dạy và học, đặc biệt là đối với các học viên Hàn Quốc có lối sống cộng đồng và trọng tình.

Đàm Trung Pháp

Các chủ ngữ vô hình 

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi bá Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Đoàn đưa ra thí dụ dưới đây: