Tác giả: Nguyễn Quang Diệu

Những công trình nghiên cứu về văn hóa – lịch sử Việt Nam nhìn từ bên ngoài được tổ chức dịch sang Việt ngữ và xuất bản trong 30 năm qua không nhiều, thiếu vắng sự hiện diện của nhiều nhà Việt Nam học lớn và các tuyến đề tài quan trọng.

Những công trình nghiên cứu của giới Việt Nam học quốc tế đã được dịch

Thời gian gần đây, độc giả trong nước ngày càng quan tâm nhiều hơn đến dòng sách khoa học nhân văn và lịch sử, đặc biệt là dòng sử Việt. Các cơ sở xuất bản (gồm nhà xuất bản và công ty sách) ở Việt Nam đã cố gắng khai thác dịch mới, hoặc tái bản, một số công trình nghiên cứu của các nhà Việt Nam học liên quan đến Việt Nam.

Một số tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến: Đỉnh cao đế quốc: Đà Lạt và sự hưng vong của Đông Dương thuộc Pháp của Eric T. Jennings, Làng báo Sài Gòn 1916-1930 của Philippe M.F. Peycam, Công giáo Việt Nam: Từ đế chế đến quốc gia của Charles Keith;[1] Vùng đất Nam bộ dưới triều Minh Mạng (1820-1841): Chính sách của triều đình và phản ứng của địa phương của Choi Byung Wook, Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam của Emmanuel Poisson, Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn của George Dutton, De Gaulle và Việt Nam (1945-1969) của Pierre Journoud, Đầm lầy: Kiến tạo quốc gia và tự nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long của David Biggs, Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam của Edward Miller; Rút quân – Nhìn lại những năm cuối cùng của Mỹ tại Việt Nam của Gregory A. Daddis, Việt Nam thời dựng nước của Keith Weller Taylor, Lịch sử Hà Nội của Philippe Papin, Xứ Đàng Trong: Lịch sử Kinh tế – Xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18 của Li Tana, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa của Tsuboi Yoshinaru, Đề Thám (1846-1913): Một nghĩa sĩ Việt Nam chống lại thuộc địa Pháp của Claude Gendre, Buổi đầu quan hệ Mỹ-Việt (1787-1941) của Robert Hopkins Miller, Từ điển lịch sử Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh của Justin Corfield, Paul Doumer: Toàn quyền Đông Dương (1897-1902), bàn đạp thuộc địa của Amaury Lorin. Trong đó, một số sách được phát triển từ luận án tiến sĩ của tác giả, 2/3 là sách dịch mới.

Ngoài ra, các cơ sở xuất bản cũng tổ chức dịch những công trình nghiên cứu của các nhà Việt Nam học thời kỳ trước, họ là những nhà nghiên cứu tiên phong và đã gặt hái được không ít thành tựu trong quá khứ. Những nghiên cứu ấy đến nay ít nhiều vẫn còn giá trị, là tài liệu tham khảo, trích dẫn cần thiết, như: Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV,[2] Tiểu luận về dân Bắc kỳ và Nghi thức tang lễ của người An Nam của Gustave Dumoutier, Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger, Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của Pierre Gourou, Vương quốc Champa của Georges Maspero, Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt của Léopold Cadière, Những người châu Âu ở nước An Nam của Charles Maybon, Phù thuật và tín ngưỡng An Nam và Tâm lý dân tộc An Nam của Paul Giran, Hội kín xứ An Nam của Georges Coulet, Đế quốc An Nam và người dân An Nam do Jules Silvestre cập nhật và chú thích, Đời Tổng giám mục Puginier của Louis-Eugène Louvet, Lịch sử Nam kỳ thuộc Pháp của Prosper Cultru, Nghệ thuật xứ An Nam của Henri Gourdon, Làng xã của người An Nam ở Bắc kỳ của Paul Ory, Đường sắt Pháp ở Đông Dương và Vân Nam của Frédéric Hulot, Điện thần và nghi thức hầu đồng Việt Nam của Maurice Durand.

Một số tác phẩm khác được viết theo lối du ký, hồi ký, ký sự hành trình nhưng ít nhiều có giá trị sử liệu về con người, xã hội và phong tục Việt Nam một thời cũng được dịch sang Việt ngữ gần đây: Hồi ký Xứ Đông Dương của Toàn quyền Paul Doumer, Hồi ký của một ông già Việt học của Cố Cả Léopold Cadière, Một chiến dịch ở Bắc kỳ của bác sĩ Hocquard, Du ký Trung kỳ theo đường cái quan của Camille Paris, Nam kỳ viễn chinh ký 1861 của Léopold Pallu, Đông Dương ngày ấy của Claude Bourrin, Hồi ức về kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX của Michel Đức Chaigneau, Nhà đoan, thuế muối, rượu cồn của nhóm tác giả, Nam biều ký của Shihōken Seishi… Trước đó nữa là các ghi chép, hồi ức của Châu Đạt Quan (周達觀), Christoforo Borri, Alexandre de Rhodes, Samuel Baron, William Dampier, Chu Thuấn Thủy (朱舜水), Thích Đại Sán (釋大汕), Pierre Poivre, John Barrow…

Cũng không quên nhắc đến những công trình nghiên cứu có giá trị đã xuất bản từ lâu nhưng đến nay đã tuyệt bản, hoặc vì in lưu hành nội bộ với số lượng hạn chế, nên độc giả rất khó tiếp cận như: Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? của Stein Tønnesson, Diễn tiến câu chuyện Vương Thúy Kiều: Từ sự kiện lịch sử Trung Hoa đến kiệt tác văn chương Việt Nam của Charles Benoit, Người Mường: Địa lý nhân văn và xã hội học của Jeanne Cuisinier, Người Pháp và người An Nam bạn hay thù của Philippe Devillers, Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông của Georges Cœdès, Hiểu biết về Việt Nam của Pierre Huard và Maurice Durand, Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV của A.B. Pôliacốp, Những cứ liệu mới về việc chép sử Việt Nam của A.L. Fedorin, Thế giới Hán hóa mới của Léon Vandermeersch, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII của Insun Yu, Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939) của Jean-Pierre Aumiphin, Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam (1857-1914) của Patrick J.N. Tuck, Tư tưởng của Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới (bộ 2 tập) và Quan hệ Nhật Bản – Vi