Chia sẻ về thành tích nổi bật của khoa Việt Nam học nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập, PGS.TS Đoàn Lê Giang cho biết, năm 2018 được xem là năm đỉnh cao của khoa Việt Nam học với số lượng sinh viên lên đăng ký theo học lên tới 5.800 lượt sinh viên. Có thể thấy việc học tiếng Việt đang ngày càng phát triển và thu hút nhiều sinh viên quốc tế.

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập khoa Việt Nam học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM) 20/12, PGS.TS Đoàn Lê Giang – Trưởng khoa Việt Nam học đã có những chia sẻ về quá trình phát triển của khoa trong thời gian qua.

PGS.TS Đoàn Lê Giang cho biết, nhờ tình hình đầu tư nước ngoài thuận lợi, nhờ sự cố gắng của tập thể giảng viên khoa Việt Nam học trường Đại học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, nên Khoa năm nay có lượng học viên cao nhất cả nước với 5.800 lượt sinh viên đăng ký theo học trong năm 2018. 100% sinh viên chuyên khoa Việt Nam học là người nước ngoài, trong đó số sinh viên đến từ Hàn Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất.

Theo các bạn sinh viên Hàn Quốc, các bạn ấy sang Việt Nam học tiếng Việt vừa hiệu quả, ít tốn kém và dễ kiếm việc làm hơn.

PGS.TS Đoàn Lê Giang – Trưởng khoa Việt Nam học

Trường Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM

“Nhiều người nói đùa rằng khoa Việt Nam học như một trường đại học Hàn Quốc thu nhỏ”, PGS Đoàn Lê Giang chia sẻ vui. PGS.TS Đoàn Lê Giang cho biết, hiện nay khoa Việt Nam học đã đào tạo được 19 khóa học với hơn 200 học viên Việt Nam học, trong đó đang liên kết với 3 trường đại học Hàn Quốc là đại học Ngoại ngữ Busan, Đại học Chungwoon và Đại học Youngsan. Khoa cũng đang tổ chức các kỳ thi 'Năng lực tiếng Việt Quốc tế' theo hình thức online 1-2 tháng/ lần với một số trường đại học ở Hàn Quốc và Đài Loan.  

Hiện nay, Hàn Quốc là quốc gia đầu tư nhiều nhất tại thị trường Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Theo thống kê thì có đến 200.000 người Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Hàn lưu với điện ảnh, thời trang và ẩm thực Hàn Quốc đang được giới trẻ Việt Nam ưa chuộng. Ngành Việt Nam học phát triển gắn liền với sự gia tăng số lượng người Hàn Quốc đến TP.HCM làm việc và sinh sống. 

Thầy và trò khoa Việt Nam học trong lễ kỉ niệm 60 năm thành lập 

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM

PGS.TS Đoàn Lê Giang chia sẻ về sự phát triển trong tương lai của khoa Việt Nam học: “Hơn 20 năm qua, khoa Việt Nam học mới chỉ chú ý tới đối tượng sinh viên nước ngoài, nhưng trong năm học 2019-2020 chúng tôi có chương trình mới như đào tạo Việt Nam học từ xa qua mạng (E-learning) và Việt Nam học cho sinh viên Việt Nam hệ chính quy với hai định hướng là du lịch nước ngoài và quan hệ quốc tế”.

Đây là cơ hội rất lớn dành cho các bạn trẻ năng động, giỏi ngoại ngữ và yêu thích ngành Việt Nam học.

MAI TRANG

Việt Nam học là ngành khoa học nghiên cứu đất nước và con người Việt Nam từ những thành tố văn hóa, lịch sử, địa lí, phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn học... để làm rõ những nét riêng độc đáo, nghiên cứu toàn diện và đa dạng những lĩnh vực của một quốc gia trên góc nhìn văn hóa.

Ngành Việt Nam học tuy là một ngành mới nhưng đã có nhiều thành công đáng kể, đặc biệt quan trọng trong tiến trình Việt Nam đang xây dựng và hội nhập sâu rộng vào quốc tế. Ngành Việt Nam học được mở với mục tiêu đào tạo người học nắm vững và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác văn hóa và du lịch; nắm vững kiến thức cơ bản về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam và kiến thức nghiệp vụ du lịch; có khả năng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động du lịch.

Nguồn: http://www.thegioitiepthi.vn/p/pgs-ts-doan-le-giang-ngay-cang-nhieu-nguoi-nuoc-ngoai-hoc-tieng-viet-20824.html?fbclid=IwAR2Sn3Ni9AS___m9wbidREYfJVjxu0N3rHl4oXBJZCEd30mTbH0oEv5_qlM 

 

Giáo sư Hiroki TAHARA

Ủy viên Hội Đồng Quản Trị, Học Viện Ritsumeikan

Ritsumeikan Asia Pacific University

 Trong các ấn phẩm về “lịch sử phát triển” của bất kỳ cơ quan hay đơn vị nhỏ nào, đều thường phải có những câu trích dẫn thật ấn tượng và cũng không kém phần hùng hồn. Và đó mới thật sự là sử ký. Về phần chính thống của lịch sử phát triển của Khoa Việt Nam học - Sử ký Toàn thư của Khoa, tôi e rằng mình không nên viết gì, vì tôi chỉ là một lưu học sinh, chỉ học tại Khoa vỏn vẹn một năm vào đúng một phần tư thế kỷ trước.

Do đó, thay vì viết sử ký về Khoa, tôi muốn Quý vị độc giả cùng tôi quay về những kỷ niệm xưa nhưng mãi không bao giờ cũ tôi. Đây chỉ là một hồi ức nhỏ nhưng nó luôn đọng lại mãi trong tôi.

 Tôi sang Sài Gòn học tiếng Việt từ tháng 8 năm 1992. Số người Nhật ở Sài Gòn lúc bấy giờ còn rất ít, chỉ khoảng 100 người. So với hiện nay là gần 10,000 người Nhật đang sinh sống ở Sài Gòn. Chúng ta dễ dàng thấy được chỉ trong một phần tư thế kỷ, các mối quan hệ hợp tác Quốc tế nói chung và mối quan hệ hữu nghị Nhật-Việt nói riêng đã phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.

 Về năng lực tiếng Việt của tôi, trong những năm qua cũng tiến bộ khá nhiều. Hồi mới sang học, dù tôi đã hết sức cố gắng nói thật chuẩn nhưng vẫn bị nhiều người hỏi lại là “Em nói tiếng Việt, được không?” hoặc là “Tôi không biết tiếng Nhật”. Điều này có nghĩa là tiếng Việt của tôi lúc ấy quá tệ nên người ta cứ tưởng tôi đang nói tiếng Nhật, chứ không phải là tiếng Việt. Tuy nhiên, sau một thời gian, nhờ sự dìu dắt và chỉ bảo tận tình của Thầy Cô, tôi hoàn toàn tự tin và cảm thấy thoải mái khi giao tiếp bằng tiếng Việt. Tôi còn rất thích nói đùa, nói kiểu dí dỏm với bạn bè Việt Nam. Ngoài ra, tôi còn mê nhạc Việt Nam, đặc biệt là nhạc Bolero. Ngày nào tôi cũng nghe - lúc đang ngồi làm việc với máy tính, lúc lái xe trên đường, lúc căng thẳng, mệt mỏi … tôi gần như nghe mọi lúc, mọi nơi, nghe hoài mà vẫn không biết chán. Tôi không chỉ nghe CD, và nghe xem chương trình trên mạng, mà còn dành thời gian đến tận phòng trà để thưởng thức giọng hát ngọt ngào của các ca sĩ Việt Nam mỗi khi có dịp.

 Thế nhưng, nếu ai đó hỏi tôi, cái gì ấn tượng nhất trong suốt thời gian học tiếng Việt thì tôi không ngần ngại mà trả lời ngay rằng “Ba cô giáo. Tình thương của ba cô giáo!”

 Lúc mới sang, tôi rất khác với bây giờ. Tôi của hiện tại rất thích ăn món ăn Việt Nam, món nào tôi cũng thích. Chả giò, gỏi cuốn, hủ tiếu Nam Vang thì khỏi phải bàn cãi, ngay cả mắm tôm, lẩu mắm, lẩu sư phụ (lẩu dê) tôi vẫn ăn được nhưng hồi mới sang, tôi thành thật xin lỗi Quý vị độc giả trước là tôi không thích ăn cơm Việt Nam. Tôi không có ý chê đâu, chỉ tại vì nó không hợp khẩu vị của mình thôi. Buổi sáng, trước khi vào lớp tôi thường mua một ổ bánh mì không, vì pate đã là món ăn đầy sợ hãi của tôi rồi. Tôi ăn bánh mì không và uống nước trà ở văn phòng. Buổi trưa, trên đường về nhà tôi ghé mua trái cây, thường là một trái bưởi và mang về nhà ăn. Có nhiều bạn cười mỉa tôi và nói vì tôi bị cai sữa sớm quá nên giờ này thèm “bưởi” nhưng sự thật không phải như thế, chỉ là vì lúc đó, tôi quen biết mỗi một bà bán bưởi nên quyết định mua bưởi của bà để không phải sợ bị “chặt chém”. Còn buổi tối thì tôi ăn ở một quán gần nhà. Tôi thường gọi một đĩa cơm chiên Dương Châu. Rõ ràng ăn uống như vậy là không có điều độ nên người tôi ngày càng ốm đi, có lúc giảm xuống chỉ còn 48kg. Soi gương, thấy người mình ốm nhom, tôi hay nghĩ là mình nên chọn nghề khác, chẳng hạn như người mẫu thời trang hay diễn viên điện ảnh thì hợp hơn vì khuôn mặt đã phù hợp sẵn, nay thêm thể hình như vậy nữa là chuẩn rồi…

 Thấy sinh viên mình ốm nhom như vậy, và có lẽ một phần nữa là anh chàng xứ Phù Tang này học mãi mà chữ nghĩa bay đi đâu hết, trông thật đáng thương nên có một hôm, Cô Hân dẫn tôi đi ăn trưa cùng. Lúc đó, quán cơm Bà Cả còn nằm trên đại lộ Lê Lợi. Vào quán ăn, nghe mùi các món ăn, tôi cảm thấy vui vẻ, và lần đầu tiên tôi thực sự thèm ăn, thèm món ăn Việt Nam. Cô Hân giải thích với tôi rằng đây là quán cơm ngon, em đến đây ăn một mình cũng được, em gọi cơm đĩa là họ sẵn sàng phục vụ… Rất may, nhờ có cô Hân mà tôi đã thoái chết đói.

 Quán đó hiện nay nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Mỗi lần đi qua quán, tôi lại nhớ đến cô Hân, nhớ bữa cơm thân mật với cô và những bài giảng của cô là…tôi thấy cay như bún bò Huế - cay mà bổ, không thể nào quên được.

 Sáng 2-4-6 tôi học với cô Hân, còn sáng 3-5-7, tôi có giờ của cô Giới. Viết vậy tôi mới nhớ ra là hồi đó ngày thứ 7 tôi vẫn phải đi học, chỉ có chủ nhật mới được nghỉ. Vả lại, cái gọi là “cuối tuần” hay từ “thứ bảy, chủ nhật” chưa được phổ biết như bây giờ.

 Cô Giới là “người Sài gốc Phan” – Phan Rang là xứ sở của nho tươi và rượu nho. Trong giờ của cô, tôi tập đọc báo nhiều. Thời ấy đã có các tờ báo hay như Báo Người Lao Động, Báo Công an Thành phố, Báo Tuổi Trẻ Cười, nhưng vì năng lực tiếng Việt còn hạn chế nên trong giờ học, tôi thường đọc báo Tuổi Trẻ và thỉnh thoảng đọc tạp chí Mực Tím hơn, mặc dù lúc đó tôi đã hết tuổi mực, chỉ còn một chút tim tím thôi, nhưng tôi vẫn có thể phần nào cảm nhận được nội dung của các bài viết. Thỉnh thoảng, có nhiều chỗ trong bài viết rất khó đối với học viên người nước ngoài bởi nhiều lý do, trong đó, một phần là do năng lực tiếng người học còn chưa đủ để “tiêu hóa” chúng. Nhưng lúc gặp khó khăn như vậy, cô Giới đã nhiệt tình giải thích từng từ, từng chữ trong câu để tôi hiểu được một cách tốt nhất có thể. Như đã nói, ngoài năng lực tiếng thì vấn đề khác biệt văn hóa, kinh tế, chính trị… cũng gây cho học viên không ít khó khăn trong quá trình lĩnh hội một ngoại ngữ. Do vậy, để học tốt ngoại ngữ, ngoài khả năng tự trang bị của học viên thì sự giúp đỡ, chỉ dạy tân tình của giáo viên cũng đặc biệt quan trọng và tôi là người rất may mắn. Tôi luôn có được những giáo viên tận tụy với nghề, yêu thương và giúp đỡ học trò hết lòng, trong số đó có cô Giới Nhờ vậy mà sau này, tôi đã được đánh giá rất cao trong nhiệm kỳ làm việc ở Đại sứ quán Nhật tại Hà Nội, với biệt tài đọc hiểu báo tiếng Việt rất giỏi.

 Còn một điều may mắn nữa khi được là học trò của cô Giới là, mỗi năm khi đến mùa nho là tôi được cô tặng một chai rượu nho Phan Rang. Đó là rượu do gia đình cô Giới nấu, một đặc sản vô cùng quý, không bán ở ngoài. Rượu có mùi nho rất đậm, uống rất bổ, uống vào cảm thấy khỏe người. Khi lớn hơn nữa, tôi đã uống rượu vang nổi tiếng của Pháp, của Tây Ban Nha, của Thung lũng Napa, uống bao nhiêu chai không nhớ nhưng thơm ngon nhất vẫn là rượu nho của gia đình cô Giới. Chắc có lẽ trong rượu có hương vị tình thầy trò và nó đã ru tôi say mèm.

 Tại Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á, nay gọi là Khoa Việt Nam học, tôi chỉ học tiếng Việt với 2 cô giáo. Nhưng ở trên tôi đã tuyên bố là ba cô giáo. Vậy, cô giáo còn lại là ai?

 Còn một cô giáo nữa, tôi luôn luôn thể hiện lòng tri ân của mình là cô Nguyên - phu nhân của thầy giáo Huệ - là thầy dạy tiếng Việt của tôi tại Tokyo. Trong khi tôi sang Việt Nam học tiếng Việt, thầy Huệ vẫn đang dạy ở bên Nhật nên tôi không có cơ hội được ngồi lớp của thầy Huệ ở Sài Gòn. Học viên, sinh viên bây giờ khó có thể tưởng tượng, hồi đó không chỉ thầy cô mà cả gia đình luôn luôn để tâm đến học trò và hay giúp đỡ học trò trong các sinh hoạt hàng ngày.

 Biết cậu sinh viên Nhật này lười ăn cơm mà lại thích uống bia, ăn sò huyết, cô Nguyên cười nói “Chiều chủ nhật em về nhà cô ăn cơm. Cô sẽ chuẩn bị những món em thích ăn.” Quả thật, chủ nhật hàng tuần cô Nguyên đều nướng sò huyết, chuẩn bị sẵn bia để đón tôi. Cô hay kể chuyện về thầy: thầy say mê nghiên cứu ngôn ngữ học như thế nào, những công trình khoa học mà thầy đã hoàn thành trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào… Đương nhiên là tiếng Việt của tôi lúc ấy chưa đủ để hiểu hết tất cả nhưng tôi mê ăn sò huyết và thích được nghe những câu chuyện đầy tâm huyết về một nhà ngôn ngữ học – thầy tôi.

 Có một ngày vào buổi chiều trời mưa rất to. Đi ra đường thì có không ai vì mưa quá to, nhưng tôi vẫn cứ đạp xe trên đường Lãnh Binh Thăng để đến nhà cô. Tôi chỉ sợ là cô đã chuẩn bị món ăn cho mình mà mình không đến thì rất bất lịch sự. Đã là người Nhật, một khi có hẹn thì dù trời mưa bão thế nào cũng phải đúng hẹn. Đến nhà, cô Nguyên rất ngạc nhiên vì trời mưa to như vậy mà khách vẫn không sai hẹn. Lúc ấy điện thoại chưa có, e-mail cũng không nên có nhiều cái “đến nơi mới biết được”. Khi thấy tôi bị ướt như chuột lột, cô Nguyên dịu dàng nói với tôi là trời mưa thì em khỏi tới, em không phải lo gì đâu.

 Đối với người Sài Gòn, đường Lãnh Binh Thăng là con đường đi đến Công viên Đầm Sen. Riêng tôi, con đường này là con đường đưa tôi về với ngôi nhà thứ hai của mình. Con đường xưa em đi, đường Lãnh Binh Thăng là con đường đẹp nhất, có nhiều kỷ niệm nhất của em, cô Nguyên ạ.

 Nhưng gì tôi vừa kể trên, có lẽ với mọi là chuyện quá nhỏ, chuyện quá riêng tư. Nhưng với tôi, nếu ai hỏi tôi rằng tại sao Tahara học tiếng Việt 27 năm mà vẫn chưa thấy chán, động lực nào làm Tahara say mê học tiếng Việt hơn một phần tư thế kỷ qua, thì chuyện tôi vừa kể trên là câu trả lời của tôi - đó là tình thương học trò của ba cô giáo đã dành cho tôi.

 Các cô yêu quý! Nếu không có tình thương của các cô, em đã bỏ học lâu rồi ạ!

Ảnh học trò Hiroki Tahara cùng cô Giới cách đây hơn 20 năm

Đoàn Lê Giang

Khoa Việt Nam học Trường ĐH KHXH và NV vào này 20/12/2018 tới đây sẽ kỷ niệm 20 năm thành lập (1998-2018). 20 năm, đó là tính từ khi chính thức thành lập Khoa Việt Nam học, chứ thực ra tiền thân của nó là tổ tiếng Việt cho người nước ngoài, chủ yếu cho Campuchia đã được thành lập từ năm 1980, tức là 38 năm trước. 

Hỏi chuyện thầy Trần Chút, Phó trưởng Khoa Ngữ văn, kiêm trưởng Bộ môn Ngôn ngữ thời ấy, thầy cho biết: Năm 1979 nước ta giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng Nhân dân Khmer giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Polpot, thì ngay năm sau - năm 1980, Bộ Giáo dục triệu tập lãnh đạo Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Tổng hợp TP.HCM ra Hà Nội nhận quyết định cấp tốc thành lập tổ tiếng Việt cho Campuchia. Thầy Trần Chút ra nhận quyết định và trực tiếp phụ trách tổ này. Ngay lập tức những sinh viên xuất sắc thuộc ngành Ngôn ngữ, Văn Tổng quát, kể cả Hán Nôm được giữ lại để đào tạo cấp tốc làm giảng viên dạy tiếng Việt cho Campuchia. Đó là các anh chị: Nguyễn Thị Ngọc Hân, Lê Thị Minh Hằng (Khóa 1979-1983), Trần Thị Minh Giới, Thạch Ngọc Minh, Trần Anh Tuấn (Khóa 1980-1984)... Các anh chị ấy được đưa sang Campuchia làm chuyên gia để dạy tiếng Việt cho cán bộ và sinh viên Đại học Phnom Pênh. Bao khó khăn, hiểm nguy rình rập. Thực sự các anh chị ấy không chỉ là các giảng viên đại học, mà còn hơn thế, như quân tình nguyện để sang xây dựng lực lượng cách mạng cho nước bạn Campuchia. 

Bên cạnh đó, nhiều giảng viên của Khoa Ngữ văn cũng tham gia công tác giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Campuchia như thầy Nguyễn Công Đức, thầy Huỳnh Bá Lân... Một số thầy tuy không ở tổ tiếng Việt nhưng cũng đi Campuchia làm chuyên gia giảng dạy tiếng Việt như thầy Trần Ngọc Hồng, Nguyễn Nam... 

Sinh viên Campuchia học tiếng Việt ở trong nước và ở Việt Nam (TP.HCM) rất đông. Mặc dù đất nước ta lúc ấy vô vàn khó khăn, thiếu thốn trăm bề, nhưng sinh viên  Campuchia vẫn được dành cho điều kiện tốt nhất: học ở cơ sở Bà Huyện Thanh Quan, Trần Quang Khải (bây giờ đã chuyển sang làm việc khác), ở KTX mới xây ở Thủ Đức (có lẽ là dãy A, B của cơ sở Thủ Đức hiện nay). Sinh viên Campuchia còn được sang thăm và du khảo ở Việt Nam. Bản thân tôi (Đoàn Lê Giang) cũng từng là thành viên đưa đoàn sinh viên Campuchia đi du khảo các tỉnh miền Trung Việt Nam năm 1986. Chuyến đi ấy do thầy Trần Chút làm trưởng đoàn. Các thành viên có các anh chị: Nguyễn Mạnh Hùng (sau này là Hiệu trưởng ĐH Hồng Bàng), Trần Thị Minh Giới (sau này làm Phó Trưởng Khoa Việt Nam học, Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM), Trần Anh Tuấn (sau này làm Trưởng Khoa Ngữ văn Trung Quốc), Thạch Ngọc Minh (hiện là giảng viên đại học ở Singapore)... Lộ trình đi từ TP.HCM ra đến cầu Hiền Lương. Người giúp đỡ rất nhiều cho đoàn là TS.Võ Xuân Trang ở Huế. Sau này thầy Trang có mở trung tâm tiếng Việt ở Viện KHXH tại TP.HCM. Xe đưa đoàn đi là xe Karosa, loại xe tiện nghi nhất bấy giờ do Tiệp Khắc sản xuất. Đi đến đâu đoàn cũng được UBND các tỉnh tiếp đãi ân cần. Thầy Trần Chút mách nước: sở dĩ làm được vậy vì mình khéo biết biến nhu cầu của mình thành nhu cầu địa phương. Trong đời tôi, sau chuyến đi ấy, vẫn cứ phục thầy là nhà thuyết khách tài ba, và tôi cũng học được thầy ít nhiều. 

Hôm thứ Bảy 9/12/2018 gặp thầy, thầy bảo: anh về phụ trách Khoa Việt Nam học cũng có lý, vì anh đã tham gia từ hơn 30 năm trước! Thầy còn hứa: Hôm nào tôi cung cấp cho anh nhiều ảnh tư liệu cũ thời đó.

Bây giờ Khoa Việt Nam học dạy cho sinh viên nhiều nước khác nhau, các giảng viên được đi làm việc ở nhiều nước, ít ai hình dung được những ngày đầu các thầy cô giảng dạy tiếng Việt đã chịu nhiều vất vả, thiếu thốn, và chấp nhận cả những hiểm nguy như thế nào.

Tháng 12 năm 2018

 

Chuyến đưa SV Campuchia đi du khảo miền Trung VN 1986. Từ phải qua: Đoàn Lê Giang, Trần Thị Minh Giới, Trần Anh Tuấn, Thầy Trần Chút, Nguyễn Mạnh Hùng.

Sáng ngày 10 tháng 12, Khoa Việt Nam học đã tổ chức buổi khai giảng cho đoàn sinh viên trường Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Singapore. Đến dự buổi lễ có PGS.TS. Lê Giang, Trưởng Khoa Việt Nam học, TS. Nguyễn Thị Thanh Hà, Phó trưởng Khoa, về phía NTU có bà Chan Hui Ling và bà Priscilla thuộc Trung tâm Dịch vụ học tập, NTU, cùng đông đảo sinh viên theo học khóa học tìm hiểu Văn hóa Lịch sử Việt Nam.

Phát biểu tại buổi lễ PGS.TS. Lê Giang cho biết: khóa học này là khóa thứ 11 kể từ năm 2007, Khoa Việt Nam học tổ chức cho sinh viên phía NTU khóa học tìm hiểu Văn hóa Lịch sử Việt Nam. Ông cám ơn Trường ĐH Nanyang đã tin tưởng về chất lượng đào tạo của Khoa Việt Nam học mà đã có sự hợp tác lâu dài như vậy, đồng thời bày tỏ hy vọng mối quan hệ giữa Khoa Việt Nam học và NTU sẽ ngày càng phát triển.

Kết thúc buổi khai giảng PGS.TS Lê Giang và TS. Nguyễn Thị Thanh Hà đại diện Khoa Việt Nam trao tặng quà kỷ niệm cho Đại diện phía NTU và các sinh viên.

Được biết khóa học này có 38 sinh viên NTU tham dự, kéo dài 2 tuần với các môn học như: Giáo dục Việt Nam, Nông thôn Việt Nam, Tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam,…Kết hợp chuyến đi thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long, thực hành làm gốm, tham quan bảo tàng. Chỉ với 2 tuần học mà sự hiểu biết về tiếng Việt và văn hóa Việt Nam của sinh viên NTU chắc chắn sẽ sâu sắc, sinh động hơn hẳn.

Chiều 26-11, đại diện Trường và Khoa Việt Nam học đã có buổi gặp và làm việc với đại diện Trường ĐH Curtin (Úc). Buổi làm việc có sự tham gia của đại diện Trường ĐH Curtin là GS. Francesco Maria Mancini - Phó trưởng khoa Thiết kế và Xây dựng Môi trường, Bộ môn Nhân văn và GS. Tanja Glusac. Về phía Trường ĐH KHXH&NV và Khoa Việt Nam học có TS. Đào Bích Hà - Phó trưởng Phòng Hợp tác Quốc tế và Phát triển Dự án Quốc tế; TS. Nguyễn Thị Thanh Hà - Phó trưởng Khoa Việt Nam học.

Trong buổi làm việc, GS. Francesco Maria Mancini đã bày tỏ sự vui mừng khi có cơ hội hợp tác và làm việc cùng Nhà trường thời gian qua.

Nhận thấy những điểm chung trong đào tạo các ngành khoa học xã hội và nhân văn, GS. Francesco mong muốn trong thời gian tới hai trường sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác, tạo điều kiện cho việc giao lưu học tập giữa sinh viên hai trường bằng các học bổng trao đổi ngắn hạn 3 đến 6 tháng, học bổng toàn phần cho sinh viên xuất sắc của Trường ĐH KHXH&NV khi đăng ký học tại Trường ĐH Curtin…

Trong chuyến làm việc và giao lưu này, Trường Đại học Curtin có 12 sinh viên tham dự khóa học chuyên đề về lịch sử văn hóa Việt Nam, kết hợp dã ngoại do Khoa Việt Nam học tổ chức, mở ra triển vọng trong hợp tác giữa hai Trường nói chung và Khoa Việt Nam học nói riêng.

(QUỐC VIỆT - HOÀNG HUY)

 

Ngày 24/11/2018 vừa qua, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM (Khoa Việt Nam học) đã tổ chức kỳ thi đánh giá Năng lực tiếng Việt Quốc tế dành cho người nước ngoài đợt cuối năm 2018. Kỳ thi này có 146 thí sinh tham gia, chủ yếu là sinh viên Hàn Quốc, kế đến là sinh viên Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Các thí sinh thi 2 buổi sáng và chiều tại cơ sở 1 Trường Đại học KHXH&NV Tp. HCM (cơ sở Đinh Tiên Hoàng) và tại trường Đại học Busan, Hàn Quốc do các giảng viên Hàn Quốc và Việt Nam ở đấy tổ chức cùng lúc theo đường truyền trực tuyến. Kỳ thi này số thí sinh tăng cao nhất, đạt kỷ lục từ trước tới nay. Kỳ thi diễn ra nghiêm túc, suôn sẻ đúng như dự định của Ban Tổ chức.

Sáng 20/11, Khoa Việt Nam học tổ chức lễ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 . Tham dự buổi lễ có Ban Chủ nhiệm Khoa, các thầy cô giáo và đông đảo sinh viên hệ chính quy, liên kết, học viên cao học của Khoa

(Dân trí) - Hôm nay 15/11, kỳ thi Đại học của Hàn Quốc chính thức diễn ra. Một thông tin khá bất ngờ và thú vị mà nhiều người có thể không biết, Tiếng Việt chính là môn ngoại ngữ thứ 2 trong “kỳ thi sinh tử” của học sinh Hàn Quốc này.